Nhìn AiCâp Mong ViệtNam

Tuesday, January 4, 2011

KHE SANH (1967- 1968) HOA KỲ THẮNG CSVN TRÊN CHIẾN TRƯỜNG NHƯNG THUA VC Ở HOA THỊNH ÐỐN




Trên tờ Washington Star ngày 9-6-1968 có đăng một bài bình luận như sau ‘ Chắc chắn trận chiến tại Khe Sanh sẽ là một đề tài lôi cuốn nhiều cuộc tranh luận kéo dài. Tuy nhiên dù ai có muốn viết gì chăng nữa thì cũng phải xác nhận rằng, chính nó mới là một yếu tố quan trọng quyết định rút bỏ VN sau này. Ngoài ra Khe Sanh còn nói lên được tấm gương dũng cãm phi thường của người chiến binh Mỹ và đồng minh Nam VN tham chiến. Nên cuối cùng sớm muộn gì người dân Hoa Kỳ cũng nhận ra chiến thắng đó khi họ đã chạm với bộ mặt thật của CSVN
 
            Và bốn mươi mốt năm sau, ngày 20-1-2009 tại Hoa Thịnh Ðốn, trong buổi lễ nhậm chức tân tổng thống Mỹ Barack Hussein Obama, qua bài diễn văn có nhắc tới sự hy sinh dũng cảm của những người lính Mỹ tại chiến trường Khe Sanh trong tỉnh Quảng Trị thuộc Vùng I Chiến Thuật của VNCH, khi so sánh địa danh này với các trận đánh lừng danh trong quân sử thế giới như Concord, Gettyburg và Normandy..
 
            Năm 1984 nhân dịp Lê Duẩn lúc đó đang là tổng bí thư đảng VC có ghé trụ sở hội nhà văn quốc doanh gần Hồ Tây, được Xuân Thiều (tạp chí văn nghệ quân đội) và Bùi Bình Thi (văn học) chất vấn về sự thất bại của VC trong trận Khe Sanh và Tết Mậu Thân 1968. Cả hai đã được Duẩn trả lời như sau ‘ Trận Khe Sanh và Tết Mậu Thân 1968 là những chiến thắng to lớn, có ý nghĩa buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh. Hy sinh bao nhiêu cũng là xứng đáng là cần thiết. Không có những chiến thắng này thì không thể có toàn thắng 30-4-1975.
 
            Trong cuộc phỏng vấn của nữ ký gia O. Fallaci với Võ Nguyên Giáp được J.Shepley chuyển ngữ và đăng trong ‘ Inteview with History ‘ với đại ý của câu hỏi, là có phải Giáp đã tạo ra một Điện Biên Phủ thứ 2 tại Khe Sanh để nhốt quân Mỹ hay không ? và Giáp đã trả lời là chẳng bao giờ xãy ra điều này, vì Khe Sanh lúc đó chỉ quan trọng đối với mặt mũi của nước Mỹ mà thôi. Leo thang chiến tranh tại Khe Sanh để gây thêm nổi chết chóc của cả hai phía, mới thật sự thu hút dư luận Mỹ. Ðó mới là chiến thắng sau cùng.
 
            Thật sự đến bây giờ qua hàng ngàn tài liệu của nhiều phía được giải mật có liên quan tới trận Khe Sanh (1967-1968) nhưng cũng chưa có ai dám xác quyết về ý đồ của Hà Nội dùng trận
đó với âm mưu ‘ đánh lạc hướng quân đội Mỹ để mở cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân 1968 vào lảnh thổ VNCH ‘ hay lấy việc nướng quân trước bom đạn Mỹ tại Khe Sanh để làm nản lòng người Mỹ trước sự phụ họa của đám phản chiến. Ðồng thời Hà Nội gây áp lực với Tàu Ðỏ viện trợ súng đạn như lời thố lộ của Duẩn nói mình đã mặc cả với Mao là sự hy sinh nhiều hay ít của VC đều tùy thuộc vào nguồn quân viện của Trung Cộng nhưng nhất định là phải thắng Mỹ dù có hy sinh thêm 2 hoặc 3 triệu mạng người Việt.
 
            Trong cuốn ‘ Chiến dịch đường 9 , Khe Sanh chung một bóng cờ ‘ xuất bản tại Hà Nội năm 1993, VC có khoe thành tích chiến thắng tại Khe Sanh với 17.000 tử thương trong đó có 13.000 lính Mỹ và 4000 VNCH, 400 máy bay các loại bị bắn hạ, thu được nhiều chiến lợi phẩm. Về phía Mỹ cho biết có 205 tử trận, bị thương nặng nhẹ khoảng 1500 người. Riêng Tiểu Ðoàn 21 và 37 Biệt Ðộng Quân/VNCH có 34 tử trận, VC bỏ xác tại chỗ hơn 2000 ngưới. Nói chung qua 77 ngày tử chiến tại mặt trận Khe Sanh, trong cũng như ngoài căn cứ kể luôn tai làng Vei, tính chung Mỹ và VNCH tử thương khoảng 650 người, bị thương nặng nhẹ 2500 người. Về phía VC thương vong từ 12000 - 15000 người.
            Cuối cùng Khe Sanh đã đứng vững và được giải tỏa trước vòng vây từ 15000 - 20.000 quân Bắc Việt nhưng rồi cũng phải phá bỏ căn cứ này vào cuối tháng 6-1968 vì áp lực của phong trào phản chiến đang tàn phá nước Mỹ vì chiến tranh VN. Đó là cái giá máu mà người lính Mỹ và VNCH đã đổ tại Khe Sanh suốt mấy chục ngày tắm trong bom đạn của kẻ thù, rốt cục được đem ra đánh đổi để làm xoa dịu vừa lòng đám loạn tặc phản chiến, sau khi tướng Abrams thay thế tướng West làm tư lệnh các lực lượng Hoa Kỳ và Ðồng Minh tại VN. Từ đó cho tới khi có cuộc hành quân Hạ Lào 719, Khe Sanh và hành lang biên giới Lào Việt được khoán trắng cho Không Quân Chiến Thuật và Chiến Lược Hoa Kỳ,  ngày đêm dội hàng ngàn tấn bom xuống một vùng đất chết vì số lượng thuốc nổ đã sử dụng tại đây nhiều gấp năm lần quả bom nguyên tử đầu tiên của Mỹ chế được, đã thả xuống thành phố Trường Kỳ (Nagasaky) của Nhật trong những ngày cuối của Thế chiến II.
1- KHE SANH : ÐIỆN BIÊN PHỦ THỨ 2 TRONG CHIẾN TRANH VN ?
            Từ đầu năm 1966, qua sự chấp thuận của đại sứ Mỹ tại Lào là William Sullivan nên đoàn nghiên cứu quan sát (SOG) đã có thể sử dụng trực thăng để thả hay bốc các toán viễn thám hoạt động dọc theo biên giới Lào-Việt với quân số trên 20 toán và vài đại đội xung kích thuộc các sắc tộc thiểu số tại cao nguyên Trung Phần. Thời gian này đơn vị SOG đã được trang bị súng tiểu liên nòng ngắn báng xếp CAR-15, trong khi QLVNCH lúc đó chưa được cấp phát súng M-16. Mùa hè 1966, SOG thêm nhiệm vụ mới là kiểm chứng các trận dội bom (Bomb Damage Assessment) do B-52 vừa mới thực hiện. Nhờ vậy SOG cũng như các phi vụ không ảnh đã nắm được sự hoạt động của cộng sản Bắc Việt đang hoạt động trên đường mòn HCM.
 
            Cũng trong năm 1966, SOG đã mở chiến dịch Shining Brass qua 48 lần xâm nhập vào các căn cứ CSVN tại vùng phi quân sự, đường số 9 tới Tchepone trên đất Lào và căn cứ Khe Sanh. Nhờ đó SOG mới khám phá được địa danh ‘ Khe Núi Xe Ðạp ‘ là một thung lũng hẹp nơi phát xuât của đoàn xe đạp thồ đủ mọi thứ kể cả súng đạn từ Bắc xuôi Nam với trọng tải mỗi chiếc trên 200 ký do dân công phụ trách.
 
            Tại căn cứ Lực Lượng Ðặc Biệt ở Khe Sanh, các toán viễn thám thuộc SOG được vận chuyển bởi phi đoàn 219 thuộc KQ/VNCH do hai phi công VN tài ba mang biệt danh là Cowboy và Mustachio nhưng sau đó Mustachio đã đền nợ nước trong một phi vụ rãi toán viễn thám Nevada bị bắn hạ tại Khâm Ðức (Kontum). Mùa thu năm 1966 Trung Tướng Lewis W Walt tư lệnh Ðệ Tam Thủy Bộ qua cuộc hành quân Hastings, thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đã đầy lui quân Bắc Việt về bên kia vỹ tuyến và lập hai căn cứ chiến lược Cồn Thiên và Rockpile. Giai đoạn này các toán viễn thám được thả sâu vào lảnh thổ Lào để nghe lén hoạt động của quân Bắc Việt qua các đường dây điện thoại, nhờ vậy mới phát hiện Hà Nội đang chuẩn bị tấn công vào hai tỉnh cực Bắc của VNCH. Ngày 28-6-1966 nhiều toán viễn thám lần lượt bị tiêu diệt khi nhảy vào các vị trí gần Khe Sanh. Cuối cùng toán viễn thám Colorado cũng đạt được kết quả khám phá các căn cứ của quân CS Bắc Việt bao quanh vùng này nhờ gắn được máy nghe lén các cuộc điện đàm của địch.
 
            Từ những ngày đầu của thâp niên 60 thời đệ nhất cộng hòa Nam VN, các cố vấn Hoa Kỳ đã có kế hoạch trùng tu và xây dựng các căn cứ phòng thủ ngăn chận sự xâm nhập của cán binh bộ đội Bắc Việt vào lảnh thổ VNCH mà Khe Sanh là một vị trí trọng yếu nhất. Ðây là một căn cứ yểm trợ hỏa lực cho Ðệ Tam Thủy Bộ Mỹ, nằm gần một sân bay cũ của Pháp. Khe Sanh còn là hậu cứ trực tiếp yểm trợ cho các đơn vị Dân Sự Chiến Ðấu thuộc Binh Chủng Lực Lượng Ðặc Biệt VN do Mỹ yểm trợ, huấn luyện và chỉ huy. Cuối năm 1966 căn cứ chiến lược Làng Vei nằm sát biên giới Lào Việt về hướng cực tây tỉnh Quảng Trị được xây dựng hoàn tất, nên Lực Lượng Ðặc Biệt đã di chuyển về đó và bàn giao Khe Sanh cho Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.
 
            Cũng từ đó cho tới khi bị phá bỏ vào tháng 6-1968, Khe Sanh được trùng tu, xây dựng và mở rộng mà đặc biệt nhất là công trình tái tạo phi trường dã chiến Pháp thành một sân bay chiến lược tối tân dài trên 5 km, có đầy đũ phương tiện yểm trợ tiếp vận cho đơn vị đang phòng thủ. Ðể không bị cô lập như căn cứ Ðiện Biên Phủ của Pháp tại Lai Châu truớc năm 1954, Hoa Kỳ đã mở nhiều cuộc hành quân kiểm soát, phát quang toàn vùng bao quanh căn cứ. Nhiều cuộc đụng độ với quân Bắc Việt tại Ðồi 861 nơi có rất nhiều hầm hố giao thông hào kiên cố của giặc, chứng tỏ chúng đang chuẩn bị tấn chiếm Khe Sanh.
 
            Ðể ứng phó kịp thời trước âm mưu của cộng sản Bắc Việt, nên nhiều đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ thuộc Sư Ðoàn 3 Thủy Bộ thay phiên nhau hành quân để giải tỏa áp lực của cộng sản tại các ngọn đồi 861, 881.. Nhờ vậy mới phát hiện thêm quyết tâm của Hà Nội là phải tiêu diệt căn cứ Khe Sanh vì nó là vết dao trí mạng đâm vào yết hầu con đường xâm nhập HCM. Ðó là lý do Bắc Việt đã tập trung một lực lượng chính quy đông đảo bao quanh căn cứ này gồm có các sư đoàn 325, 304, 324 và 320 được trang bị toàn vũ khí tối tân của Liên Xô, Tàu, Ðông Ðức, Ðông Âu như đại pháo nòng dài, súng phóng hỏa tiển và lực lượng thiết giáp hùng hậu..
 
            Ngược giòng Việt Sử ta biết Khe Sanh lúc đầu chỉ là một làng nhỏ, được thực dân Pháp khai thác lập các đồn điền trồng cà phê qua chủ nhân đầu tiên là Eugène Poilane vào năm 1926, mở đường cho nhiều người Pháp khác tới đây làm ăn vì đất đai vùng này rất tốt. Năm 1954 Việt Minh tấn công và chiếm Khe Sanh, chi phối bộ tộc Bru có nguồn gốc Môn-Khmer chừng 50.000 người sống trong vùng từ Quảng Bình, Lao Bảo, Lào vào tới Khe Sanh. Từ tháng 3-1964 linh mục Ponchet thuộc dòng Father of Foreign Mission (Pháp) tới giảng và truyền đạo tại đây nhưng ông đã bị cộng sản sát hại tại Huế trong trận Tết Mậu Thân 1968.
 
            Căn cứ Khe Sanh nằm cách biên giới Lào Việt chừng 14 km về hướng cực tây quận Hương Hóa tỉnh Quảng Trị (VNCH), tọa lạc trên một vị trí cao thuộc ngọn Ðông Tre hùng dũng nhất trong vùng có phụ lưu của sông Thạch Hản là Rao-Quan chảy qua. Vùng này chẳng khác nào một lòng chảo được bao bọc bởi đồi 881hướng bắc, 861, 558 và 881phía nam kiểm soát các trục lộ quan trọng tới căn cứ và sân bay Khe Sanh. Tất cả các ngọn đồi trên mọc đầy cây cối và tre nứa. Ðây là nơi tranh giành đẵm máu giữa quân Mỹ và Bắc Việt gần như suốt thời gian căn cứ bị bao vây. Có khoảng 6000 TQLC Hoa Kỳ trấn đóng tại đây được yểm tợ bởi các đơn vị pháo binh từ hướng tây bắc. Doanh trại của LLÐB Hoa Kỳ nằm về mạn tây nam Làng Vei trên QL9 kế trại tù nổi tiếng Lao Bảo sát biên giới Lào. Tóm lại nhiệm vụ của căn cứ Khe Sanh được coi như một bàn đạp để bộ binh và pháo binh Hoa Kỳ đánh phá ngăn chận trục tiến quân của cộng sản Bắc Việt trên đường mòn HCM. Ngoài ra còn là một cứ điểm quân sự chiến lược của VC trong trận chiến Tết Mậu Thân 1968 tại Quảng Trị và Huế-Thừa Thiên.
 
            Trước tình thế nguy ngập trên nên Tướng Westmoreland tư lệnh lực lượng Ðồng Minh và Hoa Kỳ đang tham chiến tại VN, đã quyết định phải giữ Khe Sanh bằng mọi giá dù biết ưu thế đang thuộc về Bắc quân. Hơn nữa địa thế của căn cứ này vô cùng bất lợi về phương diện phòng thủ, cũng chẳng khác Ðiện Biên Phủ là mấy vì nằm lọt thỏm giữa một thung lũng bao quanh là các ngọn đồi cao gần như che hết tầm quan sát từ bên trong. Ngoài ra cộng sản Bắc Việt còn đào được hai hệ thống giao thông hào ở phía bắc khu phi quân sự và bên kia biên giới Lào, thiết lập dàn điạ pháo mà khoảng cách chỉ có 14 km ,có thể tấn công căn cứ ngày đêm.
 
            Những tháng đầu năm 1967 quân số thuờng xuyên trấn giữ căn cứ chừng một đại đội thuộc Trung đoàn 9 TQLC thay phiên hoán đổi. Bên cạnh còn có một pháo đội cơ hửu của Tiểu đoàn 2/12 với 2 khẩu đại bác 155 ly và hai súng cối 4,2 yểm trợ. Nhưng sau khi một đơn vị TQLC Hoa Kỳ trong lúc tuần tiểu ngoài căn cứ chừng 1 km đã đụng độ nặng với quân Bắc Việt, đồng lúc trong đồn cũng bị pháo kích liên tục. Do trên Khe Sanh được tăng cường thêm Ðại Ðội E thuộc TD2/9 TQLC và đơn vị này đã chạm địch ngày 15-3-1967 tại đồi 861 khiến nhiều binh sĩ bị thương vong.
 
            Tuy nhiên tới ngày 24/4/1967 mới chính thức mở màn các trận chiến giữa hai bên trong giai đoạn 1, để tranh dành các ngọn đồi chiến lược quanh căn cứ. Cũng từ đó các đơn vị TQLC được tăng viện tới Khe Sanh gồm các tiểu đoàn 2 và 3/3 cùng với pháo đội B thuộc TD1/12 PB. Nhờ các cuộc oanh kích dữ dội của B-52 nên các đơn vị TQLC Hoa Kỳ đã làm chủ hoàn toàn các ngọn đồi 861, 881. Ngày 3 tháng 5, lần đầu tiên CS Bắc Việt tấn công căn cứ LLDB tai Làng Vei nhưng chỉ gây tổn thất nhỏ cho quân trú phòng.
 
            Ðể mở đầu cho cuộc tấn công vào Khe Sanh, quân Bắc Việt đã gây áp lực mạnh tại căn cứ Cồn Thiên sát khu phi quân sự vào những tháng cuối năm 1967 để phân tán các đơn vị TQLC tại Khe Sanh. Một tuần trước khi xãy ra trận chiến thật sự, CS đã tấn chiếm đồn biên giới Ban Houli Sane do 2000 quân Hoàng gia Lào trấn giữ. Tình hình căng thẳng thêm nên đã có 4 tiểu đoàn TQLC Hoa Kỳ (gồm 3 TD của Trung đoàn 26 và TD 1/13) hiện diện tại Khe Sanh từ đầu tháng 1-1968. Nhiều đơn vị pháo binh và thiết giáp gồm chiến xa M-48 kể cả thiết vận xa M-113 đã có mặt tại đây vào giữa tháng 1-68 cộng với sự kiên cố của các vòng phòng thủ có đặt mìn dầy đặc từ trong ra ngoài, sẳn sàng đón nhận sự tấn công của địch bất cứ lúc nào.
 
            Ðặc biệt trong căn cứ còn được thiết kế một hệ thống giao thông hào chạy vòng doanh trại, vừa giúp quân phòng trú di chuyển chiến đấu trong lửa đạn và nó cũng là sinh lộ khi đồn bị thất thủ hay tràn ngập. Ðồng lúc các tiền đồn trên những ngọn đồi chiến lược được tăng cường thêm kiến cố, khiến cho quân Bắc Việt không dám tới gần Khe Sanh vì sợ bị phát hiện.
 
+ Ngày 21-1-1968 Mở Màn Cuộc Tổng Tấn Công Khe Sanh :
 
            Ðây là giai đoạn thứ hai của cuộc chiến, Bắc Việt đã tung vào chiến trường một lực lượng hơn 20.000 của sư đoàn 304 và 325, quân số đông gấp 3 lần Hoa Kỳ có mặt tại trận địa gồm 2 trung đoàn TQLC Mỷ và tiểu đoàn 37 Biệt Ðộng Quân/VNCH. Tất cả chừng 6000 người. Chiến thuật cố hữu của Hà Nội sau trước vẫn là ‘ lấy thịt đè người ‘ với địa pháo như mưa sau đó biển người tràn ngập, bất chấp đạn bom mìn bẩy và sinh mạng của cán binh.
 
            Như Lê Duẩn và Võ Nguyên Giáp đã nói ‘ không cần chiến thắng vì Khe Sanh không cần thiết với chúng, nó chỉ quan trọng với thể diện của người Mỹ ‘ . Vì vậy Khe Sanh đã biến thành địa ngục trần gian từ giây phút đầu với quyết tâm nướng người trên biển lửa của các cấp lảnh đạo cộng sản. Những trận tấn công cảm tử khắp các mặt trận và địa pháo liên tục ngày đêm của Bắc Việt, được báo chí truyền thông phương tây và Mỹ đem về trình chiếu tại Hoa Kỳ, đã trở thành những dư luận tồi tệ và nổi hoang mang cả nước về một trận Ðiện Biên Phủ thứ hai tại Khe Sanh. Sự chết chóc của quân đội Mỹ tại chiến trường đã được tường thuật theo lũy thừa nhân qua đầu óc mao tôn cương của đám ký giả da trắng da màu bản xứ bất lương, càng tác động thêm sự chán ghét và chống đối chiến tranh, vô tình đem lại chiến thắng từ trên trời rớt xuống, mà VC không bao giờ có thể đạt được tại chiến trường.
 
            Trong đợt công kích dữ dội này, pháo địch đã làm nổ tung kho đạn dự trữ lớn nhất trong căn cứ, thiêu hủy nhiều trực thăng tại bãi đáp kế cận. Dã man nhất là quân Bắc Việt đã tràn ngập bản thượng tại Làng Vei, tàn sát đồng bào vô tội, khiến mọi người phải bỏ nhà cửa chạy vào các căn cứ quân sự xin tị nạn. Trước sự đau khổ và chết chóc của dân chúng, nhiều đơn vị TQLC đã chiến đấu với giặc Cộng cả ngày 27-1 mới mở được con đường máu, đem tất cả dân làng về căn cứ và di chuyển họ bằng phi cơ về lánh nạn tại Ðà Nẳng.
 
            Ðại tá Lownds , Trung đoàn trưởng Trung đoàn 26 TQLC cũng là chỉ huy trưởng của căn cứ Khe Sanh đã phải đối diện với nhiều vấn đề nan giải như thay thế 1500 tấn đạn dược bị tiêu hủy, sữa chữa phi đạo bị pháo kích làm hư hại khiến cho loại vận tải cơ C-130 không đáp được. Ngoài ra còn phải giải quyết hàng trăm người tị nạn và đơn vị DPQ tại xã Khe Sanh đang tràn ngập trong căn cứ.
 
            Ngày 22-1 các phi cơ nhỏ C-123 tiếp tế khẩn cấp 130 tấn đạn các loại, đồng thời tiểu đoàn 1/9 cũng tới tăng viện đóng quân tại hướng tây căn cứ. Công cuộc phòng thủ được sắp xếp để thích ứng với tình hình bằng cách dời xa thêm các vị tr1 tới chân đồi 950 băng ngang qua sông Rao-Quan và đồi 881 Nam. Ngày 27-1 Liên Ðoàn 1 BDQ/VNCH tăng cường cho Khe Sanh với một đại đội thuộc tiểu đoàn 21 và toàn bộ tiểu đoàn 37/BDQ do thiếu tá Hoàng Phổ chỉ huy. Dù được chỉ định phòng thủ tuyến lửa xa nhất và nằm ngoài vòng đai căn cứ cuối phi đạo dài hơn 1500m. Tuy nhiên QLVNCH tại Khe Sanh đã giữ vững được vị trí của mình tới khi tàn cuộc chiến trước sự thán phục và ngưỡng mộ của TQLC Hoa Kỳ. Ðây là môt lưc lượng mạnh và đắc lực nhất đã cứu vãn hệ thống phòng thủ yếu ớt tại vị trí đãm nhận.
 
            Tuần lê cuối cùng của tháng 1-1968 dù Cộng quân không ngớt pháo kích và tấn công nhưng phi đạo cũng được sửa sang hoàn tất để các loại vận tải cơ hạng nặng lên xuống tiếp tế và tải thương, chở người tị nạn về Ðà Nẳng. Lợi dụng sương mù dày đặc gần như che kín bầu trời phía tây Quảng Trị, ngày 23/1 VC đã mỡ màn trận địa pháo bằng các khẩu 152 ly do Nga viện trợ, được đặt tại hai hệ thống giao thông hào phía bắc vỹ tuyến 17 và bên kia biên giới Lào, tập trung đổ vào Khe Sanh liên tục không ngừng. Các đơn vị chính qui của Bắc Việt nhân cơ hội này cũng áp sát đến phi đạo, hai bên chỉ còn cách nhau chừng 400m. Tại đây VC đào hầm hố cá nhân và chuẩn bị một cuốc tấn công.
 
            Nhưng ngày 24/1 trời Quảng Trị bổng quang đảng trở lại, nên hơn 450 phi xuất của không lực Hoa Kỳ đều đổ xuống Khe Sanh cho dù pháo binh phòng không của VC rất dữ dội làm thiệt hại nhiều phi cơ khi công tác. Bên ngoài các lực lượng khác của TQLC Mỹ vẫn bám chặt chiến trường, mở lại quốc lộ số 9 để nhận tiếp liệu. Theo ước lượng của của các nhà quân sự, vào lúc đó Bắc Việt đã tập trung trong khu vực từ Cồn Thiên, Gio Linh , Làng Vei tới Khe Sanh chừng 50.000 quân chủ lực, để chuẩn bị một trận đánh lớn. Ðặc biệt cả Mỹ lẫn VC đều tuyên bố không có hưu chiến vào ngày tết nguyên đán Mậu Thân (31-1-1968) tại 5 tỉnh cực bắc thuộc quân khu I VNCH.
 
+ Ngày 29-1-1968 : Ðêm 30 Tết Mậu Thân, VC Tấn Công VNCH.
 
            Trước tình hình quân sự đang nóng bỏng tại Khe Sanh nên chính phủ VNCH đã ban lệnh hưu chiến vào những ngày đầu Tết Mậu Thân từ 48 giờ, nay chỉ còn hiệu lực 36 tiếng, bắt đầu từ 18 giờ ngày 29-1 đến 6 giờ ngày 31-1-1968. Lợi dụng việc bỏ giới nghiêm và lệnh hưu chiến có hiệu lực, Hà Nội đã mở một cuộc tổng công kích trên toàn thể lảnh thổ VNCH , trong giờ phút linh thiêng mọi người đang đón mừng và cúng kính trong năm mới. Vào lúc giao thừa (29-1-1968) cũng là đêm 30 tết, các thị xã Qui Nhơn, Kon Tum, Pleiku, Darlac, Nha Trang.. là những mục tiêu bị VC tấn công đầu tiên. Có điều quân Bắc Việt không hề tấn công vào bất cứ một vị trí nào của quân Mỹ và Ðồng Minh trong đợt này.
 
            Nhưng tình hình tại Khe Sanh thì khác vì chiến cuộc đã bắt đầu tàn khốc bằng những trận pháo kích dồn dập không dứt, những trận đánh đẳm máu quanh căn cứ và các tiền đồn trên đồi 861 và 881 Nam. Nhưng hầu hết các cuộc tấn công đều bị bẽ gảy nhờ có không trợ và pháo yểm rất chính xác. Tóm lại căn cứ rất an toàn nhờ hệ thống phòng thủ kiên cố nhất là sự hiện diện của Biệt Ðộng Quân VNCH.
 
            Ngày 7-2-1968 với sự yểm trợ của 10 chiến xa PT-76 do Liên Sô chế tạo, quân Bắc Việt đã tấn công và tràn ngập Trại Lực Lượng Ðặc Biệt Làng Vei nằm sát biên giới Lào. Cộng Sản đã tán sát tất cả 9 cố vấn Mỹ và hơn 300 dân sự chiến đấu. Một số chiến xa bị LL đặc biệt bắn cháy nhưng số còn lại đã truy giết những quân nhân Biệt Kích và Ðịa Phương Quân VNCH còn sống sót , cùng đồng bào Làng Vei chạy về căn cứ Khe Sanh đang bị vây hãm, trong số này có nhiều đặc công VC trà trộn theo. Nhưng sau đó đều bị LLDB tiêu diệt.
 
            Tuy vậy, tướng Westmoreland vẫn quyết định giữ vững Khe Sanh như một thách đố để chứng tỏ với thế giới và bọn chóp bu Hà Nội, về khả năng vô địch của không quân Mỹ nhất là các pháo đài bay B-52 sẽ không bao giờ cho phép cộng sản Bắc Việt mơ tưởng việc tái diễn cái gọi là Ðiện Biên Phủ thứ 2 tại đây.
 
            Ngày 9-2 tiểu đoàn 1/9 TQLC đã tái chiếm lại tiền đồn Hầm Ðá ngoài căn cứ sau một đêm lọt vào tay cộng quân. Các tuần lễ liên tiếp vào những ngày thời tiết tốt, hàng ngàn phi vụ của Hải, Không quân và TQLC thi nhau trút bom đạn vào những hầm hố giao thông hào như mạng nhện của VC đào cố thủ quanh căn cứ, B-52 đã biến các đồi núi nằm ngoài chu vi an toàn thành cõi hoang vu không có sự sống, qua chiến dịch không tập ‘ Niagara ‘ kinh hoàng nhất trong lịch sử chiến tranh VN.
 
            Nhưng như Duẩn, Giáp đã tuyên bố ‘ phải chiến thắng Mỹ dù có phải đột rụi Trường Sơn hay hy sinh thêm vài triệu cán binh bộ đội miền Bắc, thì cũng đáng ‘.Do đó măc cho bom đạn trút xuống như mưa, cộng sản Bắc Việt vẫn bám trụ trong hầm hố giao thông hào , nhắm bắn các máy bay vận tải C-130 lên xuống tiếp tế và tải thương cho căn cứ. Vì có nhiều máy bay loại này bị bắn hạ nên 6 tuần, Hoa Kỳ quyết định dùng C-123 thay thế vì loại này cất cánh nhanh và có thể đáp xuống phi đạo ngắn.
 
            Ngày 28-2, quân Bắc Việt thuộc sư đoàn 304 mở ba cuộc tấn công vào tuyến phòng thủ của Tiểu đoàn 37 BDQ/VNCH nhưng bị đẩy lui. Ðây là đợt tấn công cuối cùng vào Khe Sanh vì suốt tháng 3-1968 cộng sản chỉ còn pháo kích mà thôi. Ðể giải toả áp lực cho căn cứ, từ 1 tới 12-4-68 tướng West quyết định tổ chức các cuộc hành quân Pegasus Hoa Kỳ và hành quân Lam Sơn 207A của QLVNCH do thiếu tướng J.J Tolson chỉ huy tổng quát. Quân số tham dự khoảng 10.000 người của 3 lữ đoàn thuộc Sư đoàn 1 kỵ binh không vận cộng với Trung doàn 1 và 26 TQLC Hoa Kỳ. Phía VNCH có Chiến đoàn 3 Dù (TD 3,6 và 8) do Ðại tá Nguyễn Khoa Nam chỉ huy.
 
            Trước một ngày, sư đoàn 3 TQLC Hoa Kỳ và sư đoàn 1 VNCH mở cuộc hành quân nghi binh tại Cồn Thiên và Gio Linh, kết thúc ngày 1-5-68 qua các cuộc chạm súng không đáng kể. Trong khi đó, cuộc hành quân giải toả Khe Sanh được thực hiện bằng hai gọng kềm, một mặt các tiểu đoàn TQLC từ Cà Lu theo quốc lộ 9 tiến về căn cứ, còn các đơn vị kỵ binh không vận được trực thăng đổ xuống các bãi đáp cách Khe Sanh chừng 5 dặm để mở các cuộc hành quân theo hướng đồn Pháp cũ tiến về căn cứ. Ngày 6-4 các đơn vị kỵ binh không vận đã bắt tạy được với TQLC Khe Sanh tại đồi 471,552,558, 689.
 
            Riêng 3 tiểu đoàn thuộc chiến đoàn 3 Dù/VNCH được trực thăng vận về hướng tây nam Khe Sanh ngày 7-4-68 đã dụng độ và sau nữa giờ giao tranh, cộng quân đã chém vè để lại nhiều xác chết. Ngày 8-4 lúc 8 giờ sáng, lực lượng ky binh không vận vào Khe Sanh. 10-4 KBKV tái chiếm trại lực lượng làng Vei. Ngày 14-4 tiểu đoàn 3/26 tái chiếm đồi 881 Bắc. Ngày 15-4 chấm dứt hai cuộc hành quân Pegasus và Lam Sơn 207A giải tỏa Khe Sanh, Chiến đoàn 3 Dù về Huế còn 2 lử đoàn của Sư đoàn 1 KBKV ở lai Khe Sanh thay thế cho 4 tiểu đoàn TQLC đã trấn thủ căn cứ, để tiếp tục càn quét tàn quân Bắc Việt trong các khu vực phụ cận.
 
            Ngày 6-7-1968 người lính Mỹ cuối cùng rời căn cứ Khe Sanh, thay vào đó là các cuộc hành quân lưu động của quân đoàn III thủy bộ Hoa Kỳ và các cuộc dội bom của không quân chiến thuật Mỹ vì đây là vùng oanh kích tự do, cho tới khi QLVNCH mở cuộc hành quân Hạ Lào 719 năm 1971, căn cứ Khe Sanh mới được sử dụng lại.
 
2- HOA KỲ CHIẾN THẮNG TẠI KHE SANH NHƯNG THUA VC Ở HOA THỊNH ÐỐN :
 
                 
                                                         SLAUGHTER (Anti Vietnam War Song)
            Ngay khi CS Bắc Việt chiếm dinh Ðộc lập vào buổi trưa ngày 30-4-1975, thì tại thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, Ðại sứ VNCH là Trần Kim Phương, đã nghẹn ngào tuyên bố trước báo chí Mỹ :’ làm đồng minh với Hoa Kỳ là đi vào tử điạ ‘.
 
             Gần ba mươi năm sau, lúc mà vết thương của người vong quốc chưa kịp đóng vảy, thì  ngày 29-9-2004 trên chương trình ‘ No spin zone’ của đài Fox, một ký giả tên O’Reilly sau khi bàn tán chuyện chính trị của A Phú Hãn và Iraq, lại kéo VNCH vào cuôc qua gợi ý :’ Vì Nam VN đã không chiến đấu cho tự do, nên họ không có tự do ngày nay ‘ , Câu hỏi được TT.W.Bush đáp ‘ YES’ . Nhưng DB Loretta Sanchez đã phát biểu trên chương trình ‘ The O’Reilly Factor ‘, khẳng định sự sai lầm và không đúng sự thật về câu trả lời của tổng thống Bush. Ông còn lấy làm tiếc, là trước đây Bush đã không chịu tình nguyện sang chiến đấu tại chiến trường VN, nên đã không biết gì hết về cuộc chiến vừa qua, trong đó đã có hằng triệu quân dân Nam VN, chiến đấu bên cạnh quân đội Hoa Kỳ.
 
             Một số còn sống sót sau cuộc chiến đã tới Mỹ tị nạn cọng sản, và họ vẫn tiếp tục chiến đấu không ngừng nghĩ, để dành cho được tự do, dân chủ chân chính tại quê hương VN, mà chính Hoa Kỳ đã trực tiếp bóp nát trước năm 1975. Những thành quả đạt được khắp nẻo đường hải ngoại, như chính quyền công nhận lá cờ vàng biểu tượng của quốc dân VN, tượng đài vinh danh chiến sĩ Việt-Mỹ, sự hình thành các cộng đồng lớn mạnh của người Việt tị nạn, các vụ biểu tình chống Trần Trường trương cờ máu, ảnh quỷ và các phái đoàn tuyên vận VC cũng như kinh tài. Ngoài ra sự ngồi lại của tập thể cưụ chiến binh VNCH, bao gồm cả lực lượng cảnh sát, cán bộ xây dựng nông thôn và thế hệ hậu duệ trong nhiều năm qua rất tốt đẹp... Ðó không phải là sự tranh đấu của người Việt hiện nay, để đòi lại tự do dân chủ của mình, bị chính Hoa Kỳ dùng viện trợ tước đoạt từ mấy chục năm về trước ?
 
             Hoa Kỳ đã một mình một chợ, dàn dựng lên cái gọi là hiệp đinh Ba Lê tháng 1-1973, ngưng chiến và hòa binh cho VN. Vì đã có chủ đích, nên hiệp định này chỉ có hai điểm đem lợi ích cho họ được thi hành nghiêm chỉnh. Ðó la việc quân Mỹ phải triệt thoái hết về nước, theo
 đúng hạn chót đã ấn định vào ngày 29-3-1973 và quân xâm lăng Bắc Việt được Hoa Kỳ cho phép ở lại Nam VN. Chỉ điều khoản thứ hai này, đủ chứng tỏ Hoa Kỳ không bao giờ muốn ký hòa ước với cọng sản, để thực thi sự ngưng chiến và tìm kiếm hòa bình cho VN. Trái lại ngụy tạo, hiệp định Ba Lê năm 1973, để có cơ hội công khai và hợp pháp, viết lên bản án tử hình của VNCH, ngay từ lúc ký.
 
            Hành động bất lương của một siêu cường, đã khiến cho bao chục triệu người Nam VN, chẳng những đã tan nhà nát cửa, gia đình ly tán, mà còn bị hủy diệt nền tự do dân chủ mà họ đã dùng xuơng máu, huyết lệ của chính mình, để bồi đắp, xây dựng và duy trì liên tục từ 1955 đến cuối tháng 4-1975. Cũng vì sự gian manh trên, từ đó uy tín của nước Mỹ không còn được thế giới tự do tin tưởng và mong cậy kết giao hợp tác tới cuối tháng 12/2010, nếu không có lợi như trường hợp của Nam Hàn, Nhựt Bổn, Ấn Độ và Nga Sô.
 
            Ðã thế, hai vị TT của Mỹ là Nixon và Ford, còn trắng trợn nhổ liếm những lời hứa hen đã được quốc hôi, chính phủ nước mình ký nhận ban hành, đồng thời với những thơ riêng mực đen giấy trắng, liên tục gởi cho TT Nguyễn Văn Thiệu, rằng là hãy ký hiệp định, để tiếp tục có viện trợ. Còn nếu CS Bắc Việt bội ước, thì Hoa Kỳ sẽ lập tức dội bom, cũng như trở lại tức khăc để bảo vệ VNCH. Nhưng tất cả chỉ là cuội, chẳng những Hoa Kỳ ngoảnh mặt trước sự công khai vi phạm hiệp ước ngưng bắn của VC , mà còn tàn nhẫn cúp hết viện trợ đã hứa dành cho QLVNCH có phương tiện, chống lại cuộc xâm lăng Nam VN của khối đệ tam cọng sản quốc tế.
 
            Thực chất cuộc chiến VN tới nay vẫn là một đề tài được tranh luận dai dẳng, chính TT W. Bush khi tuyên bố ‘ Yes’ trên đài Fox, về một vấn đề gai gốc mà bản thân chưa biết trọn, chứng tỏ là Hoa Kỳ dù đã tốn nhiều máu xương tiền bạc về cuộc chiến đó vẫn chưa hiểu thấu cái chiến tranh, mà Cọng sản gọi là ‘ chiến tranh cách mạng ‘, đã đánh bại người Mỹ và thế giới tự do, tại hai mặt trận Trung Hoa lục địa và Nam VN.
 
             Thực chất cuộc chiến đó, nay qua thời gian và những khai quật của lịch sử cho thấy chỉ là một thứ chiến tranh vừa du kích lẫn qui ước, trong mục đích dấy loạn và khuynh đảo thế giới, bằng hành động phi nhân man rợ, chứ không có gì là cao siêu huyền diệu, như một số triết gia trí thức Tây Phương và Hoa Kỳ, từng ca tụng điên cuồng trong quá khứ. Người Mỹ vì không thực tâm chiến thắng tại trận địa, trong khi có đủ điều kiện để chiến thắng, đó mới chính là thực chất của cuộc chiến Ðông Dương lần thứ II (1955-4/1975).
 
            Nói chung, qua kinh nghiệm xương máu của chính người Việt Quốc Gia, trong suốt 80 năm tranh đấu, cho thấy Hoa Kỳ, Thế Giới Tự Do cũng như Nam VN, đã thua VC qua cuộc chiến với một lý do duy nhất : ‘ Ðó là sự hèn nhát của tập thể, vì sợ và ích kỷ, nên đã vô tình hay cố ý, yểm trợ đắc lực cho Bắc Việt các nguồn tình báo, nhân lực và tiếp tế ‘.Một sự kiện lích sử mà không hề thấy tại các nước khác bị chia đôi sau thế chiến II như Ðức, Triều Tiên và Ðài Loan. Do trên, Nam VN không bị cọng sản cưởng chiếm, đó mới là chuyện lạ nhất trên đời.
 
            Vì đâu phải mất nước ? một câu hỏi đã đè nặng trong tâm trí người Việt sống sót sau cuộc chiến. Bởi chính họ đã có mặt hay thật sự chứng kiến toàn bộ cuộc chiến, từ đầu cho tới trọn ngày 30-4-1975, khi Nam VN buông súng đầu hàng. Rõ ràng trong suốt cuộc chiến từ năm 1955-1975, dù có mặt Hoa Kỳ và Ðồng Minh hay chỉ một mình chiến đấu đơn độc, QLVNCH vẫn luôn làm chủ chiến trường, tại hầu hết các mặt trận nhỏ lớn, quan trọng như Tết Mậu Thân, Mùa hè đỏ lửa 1972 tại An Lộc, Kontum, Bình Ðịnh, Quảng Trị.
 
             Ngay những ngày tháng 4-1975 trong giờ thứ 25, dù phải chống trả với thù trong giặc ngoài, QLVNCH vẫn chiến đấu anh dũng tại các mặt trận Khánh Dương, Tháp Chàm, Phan Thiết, Phước Long, Tây Ninh-Hậu Nghĩa và nhất là Xuân Lộc, đã làm quân xâm lăng Bắc Việt, phải khiếp sợ la làng, đổ thừa Mỹ trở lại giội bom nguyên tử. Ngày 30-4-1975, khi các quân đoàn Bắc Việt, từ tám hướng siết chặt vòng vây Thành Ðô, nhưng bên trong vẫn còn đủ an toàn, để Hoa Kỳ dùng trực thăng bốc người ra chiến hạm.
 
            Trên sông Sài Gòn cũng như khắp bầu trời, cũng chính là những sinh lộ, bởi vì khắp nơi còn có sự chiến đấu của SD3,5,7,9,18,21,22,25 BB, của Lữ Ðoàn 3 Xung Kích, SD Dù, Biệt kích Dù-Lôi Hổ, TQLC, Thiết Giáp,BDQ, DQP+NQ,XDNT,CSDC và ngay cả những Thiếu Sinh Quân, Nhân Dân Tự Vệ. Tất cả đã ở lại chiến đấu tới cùng, và đã làm vỡ mặt Hà Nội khi những chiếc T54,PT76 vừa tới Ngã Tư Bảy Hiền đã bị các chiến sĩ Liên Ðoàn 81 BCND và Lữ Ðoàn 4 Nhảy Dù bắn hạ. Lịch sử VN cận đại, là những trang huyết lệ, được người lính trận viết tại chiến hào, hố bom và ngay trên cơ thể của mình, chứ không phải qua những tài liệu, nói là của Tây Tàu, Nga Mỹ vừa được giải mật..
 
            Tuy văn khố Hoa Kỳ nói là đã cho giải mật nhiều tài liệu lịch sử có liên quan tới cuộc chiến vừa qua nhưng những điều vừa bật mí, thật sự chưa được đưa hết ra ánh sáng. Do muốn tìm hiểu sự thật về một cuộc chiến đã làm cho Hoa Kỳ phải sa lầy và mang rất nhiều tai tiếng, nên suốt mấy chục năm qua, nhiều nhân vật, từ những quân nhân thuần tuý đã tham dự cuộc chiến như Ðô Ðốc Grant Sharp, Ðại Tướng William C. Westmoreland.. hay trong ngành ngoại giao như GS Tiến Sĩ Stephen Young, Robert Sharphen, William Colby.. đều thắc mắc về sự bại trận của Hoa Kỳ, mà theo họ chẳng bao giờ có thể xảy ra trong một cuộc chiến vô cùng chênh lệch giữa hai đối thủ, cho dù phía sau lưng CSVN có Liên Xô, Trung Cộng và khối Ðông Âu chống lưng giúp đỡ tận lực.
 
            Ðúng như Ðô Ðốc Grant Sharp cựu Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, viết trong tác phẩm nổi tiếng ‘ Strategy For Defeat ‘ (Cuộc Chiến Không Cần Thắng), trong đó vị cựu Tư Lịnh cũng là một tướng lãnh từng tham dự tại chiến trường Nam VN nhiều năm, nói rằng Ông và thuộc cấp dưới quyền bị các nhà lãnh đạo của nước Mỹ tại Hoa Thạnh Ðốn, cột chặt một tay khi họ chiến đấu tại VN. Thảm kịch này mãi tới năm 1985, sau khi chính phủ Hoa Kỳ ban hành một số luật mới cho phép giảm độ mật , thì Bộ Quốc Phòng mới cho in phổ biến hai mươi sáu trang, tóm tắt luật chiến đấu của quân lực.Hoa Kỳ tại Ðại Hàn và VN, gọi là ‘ Rules of Engagement ‘.
 
            Chính phủ Hoa thịnh Ðốn, chẳng những cấm Quân Lực Mỹ, Ðồng Minh, VNCH không được thẳng tay tiêu diệt kẻ thù, mà còn tiết lộ những bí mật quân sự, quốc phòng cho CSVN biết trước, qua những lần oanh tạc tại miền Bắc, trên đường mòn HCM, hành quân Lam Sơn 719.. Ðó là tất cả những sự kiện lịch sử có thật, được Thứ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Phil Golding thời TT.Johnson, trả lời thắc mắc của hàng ngàn gia đình tử sĩ Hoa Kỳ :’ Chúng ta đang tham gia vào một cuộc chiến giới hạn, với những mục tiêu hạn chế. Nói chung đây là một cuộc chiến vì chính trị, nên không thể tiêu diệt VC được ‘.
 
            Do sự phản ứng càng lúc càng đông của người Mỹ, trước cái gọi là ‘ đánh không cần thắng ‘, nên dân chúng đã xuống đường, đã đảo mà báo chí thời đó gọi là do phản chiến giựt dây. Thật sự , người Mỹ đã quá chán ngấy cái trò đem con bỏ chợ, đem trứng cho ác, dai dẳng từ thời Kennedy, Johnson, kế đó là Nixon, nên đã giận dữ đòi Hoa Thịnh Ðốn ‘ Hãy cút khỏi VN ngay, hãy chấm dứt cái trò chiến tranh nướng thịt dai dẳng vô ích này .’
 
            Tóm lại qua cuộc chiến VN do đầu óc con buôn, người Mỹ đã đánh mất tất cả mọi ý thức về trách nhiệm và danh dự, làm tiêu tốn hơn 150 tỷ mỹ kim tiền đóng thuế của dân chúng, hại cho 55.000 chiến sĩ bị chết oan và hơn 300.000 quân nhân các cấp bị thương tật. Không có gì tồn tại với thời gian, trừ chân lý. Vì vậy những câu chuyện hề của Henry Winston, chủ tịch đảng cọng sản Mỹ, đem diễn tại Hà Nội vào tháng 5-1975, hay lời tuyên bố vung vít của Nguyễn Hữu Thọ, chủ tích bù nhìn của Mặt Trận Ma giải phóng, tại Mạc Tư Khoa, ngay khi Sài Gòn thất thủ : ‘ cám ơn báo chí và ký giả Tây Phương, đã góp phần lớn cho chiến thắng của Hà Nội, trong số này đáng kể là người Mỹ ‘.
.
            Cũng nhờ báo chí phản tuyên truyền, Tết Mậu Thân 1968, VC chết thảm khắp nơi, đã thành chiến thắng, chiếm được ngay cả Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Sài Gòn. Tàn nhẫn và đáng khinh tởm nhất, là báo chí Tây Phương trong suốt cuộc chiến Nam VN, đã không hề một chữ tường thuật những hành vi khủng bố, giết người tàn bảo của VC trong trận Mậu Thân 1968 tại Huế, năm 1972 và những ngày cuối cùng tháng 4 đen 1975.
 
            Từ ngày 21-1-1968 cộng sản Bắc Việt đã huy động hơn 20.000 cán binh chính qui để vây hãm căn cứ Khe Sanh, quyết tâm nhốt 6000 quân TQLC Hoa Kỳ và Tiểu Ðoàn 37 BDQ/VNCH vào trong một lòng chảo như chúng đã từng đánh bại quân Pháp năm 1954 tại Ðiện Biên Phủ. Nhưng cuối cùng căn cứ Khe Sanh vẫn đứng vững vì kỹ thuật quân sự mà Bắc Việt đã xài năm xưa tại Ðiện Biên Biên Phủ, nay đã bị Hoa Kỳ đánh bại tại Khe Sanh.
 
            Tháng 6-1968 sau khi gần như toàn bộ cộng sản Bắc Việt đã tự ý hay bị đánh đuổi ra khỏi khu vực Khe Sanh thì người Mỹ cũng quyết định tháo gở và rút khỏi căn cứ này với lý do thật đơn giản ‘ Khe Sanh đã không có giá trị chiến lược và cần thiết ‘ khi quân cộng sản đã không còn khả năng tập trung như trước. Hơn nữa các đại đơn vị Mỹ như Sư Ðoàn 1Kỵ Binh Không Vận và SD101 Dù Mỹ đang trấn đóng tại Quảng Trị, có đủ quân số và khả năng lưu động để hành quân phản công bất kỳ ở đâu.
 
            Thực tế vì muốn thu hút phiếu bầu trong kỳ tổng thống lần thứ 2, nên Johnson đã ra lệnh ngưng oanh tạc miền Bắc từ 31-3-1968, giúp cơ hội cho Hà Nội nhanh chóng bổ sung quân và tiếp tế cho cán binh tại Miền Nam mở cuộc tổng công kích đợt 2 vào các tỉnh thị của VNCH. Ngoài ra kế hoạch ‘ hàng rào điện tử Eye Marker ‘ của bộ trưởng quốc phòng Mc Namara tại đường ranh vỷ tuyến 17, cũng thất bại vì VC xâm nhập vào miền Nam bằng trục đường mòn thiết lập trên lảnh thổ Hạ Lào.
 
            Tóm lại CSVN đã thành công về mặt tuyên truyền như chúng đã từng thu được năm 1954 trên bàn hội nghị Ðông Dương tại Geneve qua trận Ðiện Biên Phủ. Lần này lại dùng Khe Sanh để dương đông kích tây, tấn công vào lảnh thổ VNCH trong dịp tết Nguyên Ðán Mậu Thân 1968. Cộng Sản Hà Nội đã thất bại hoàn toàn tại Khe Sanh cũng như trận Tết Mậu Thân nhưng chúng cũng đã làm chậm lại hay phá vở kế hoạch của Tướng West sử dụng quân Mỹ đánh qua Lào để tiêu diệt con đường mòn HCM khi ông rời khỏi chức vụ.
 
            Cuối cùng vì hậu quả của Khe Sanh và Tết Mậu Thân 1968, tổng thống Johnson không ra ứng cử nhiệm kỳ 2. Tháng 5-1970 qua thảm kịch đẳm máu tại đại học Kent State ở Ohio, đã khiến cho tổng thống Nixon không còn con đường lựa chon nào khác là phải rút quân và bỏ VNCH cho cộng sản quốc tế Hà Nội. Bắc Việt đã thua quân lực Mỹ và VNCH khắp các chiến trường nhưng chúng đã đánh bại chánh phủ Hoa Kỳ ngay tai Tòa Bạch Ốc và Ngũ Giác Ðài ở thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, trong cuộc chiến tranh VN vừa qua.
 
            Với đầu óc lắt léo nói một đàng làm một ngã của ông Obama như mọi người đã thấy và nghe suốt hai năm cầm quyền, nên sự kiện nhắc tới trận Khe Sanh (1967-1968) thời chiến tranh VN sẽ mang hàm ý ‘ ai muốn nghĩ sao củng được ‘ nghĩa là muốn xưng tụng thì cứ xưng tụng, còn chối bỏ thì cứ coi như đó là một bài học của nước Mỹ để rút kinh nghiệm tại Iraq và A Phú Hản ngày nay. Tuy nhiên đối với người tị nạn VN nhất là những người lính già còn sống sót, chúng ta phải cám ơn ông Obama đã nhắc tới địa danh Khe Sanh, để mọi người cùng hảnh diện về sự can trường của những chiến sĩ Tiểu Ðoàn 21 và 37 BDQ/VNCH suốt thời gian tham chiến bên cạnh quân lực Hoa Kỳ, chẳng những làm cho giặc cộng kinh hoàng bạt vía mà còn khiến cho người Mỹ cũng nể phục và ngưởng kính QLVNCH.
 
Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Cuối năm 2010 - Mường Giang  

Sài Gòn bắn pháo bông ‘tầm thấp’, không ai nhìn thấy

SÀI GÒN 3-1 (VNE) - Thiếu tiếng pháo mừng xuân hơn 20 năm nay, cư dân Sài Gòn quay sang náo nức đón chờ 15 phút nhìn ngắm pháo bông tỏa sáng trên bầu trời đêm giao thừa Tết Tây 31 tháng 12 năm 2010.

Theo bản tin VNExpress, từ 10 giờ đêm, hàng chục ngàn người lũ lượt, tấp nập kéo về trung tâm Sài Gòn, kín mít các con đường chung quanh Bến Bạch Ðằng, quận 1. Rất nhiều “ông Tây, bà Ðầm” có mặt tại Saigon đêm giao thừa cũng túa ra phố tìm hưởng những giây phút thơi thới, an bình cùng với “dân ta”. Ai cũng mong được tận mắt chứng kiến cảnh pháo bông đủ màu sắc rực rỡ nhảy nhót trên bầu trời và nghe những tiếng đì đùng đón chào năm mới, rồi sau đó tìm đến một nhà hàng hoặc trở về nhà ăn một món “nhẹ” để “giữ một năm thanh bình, an lạc như thế”.
Khách ngoại quốc trao nhau nụ hôn và tự chụp ảnh cho mình. (Hình: VNExpress)

Tuy nhiên, hàng ngàn người Sài Gòn đã thất vọng vì trận bắn pháo bông “ở tầm thấp” nên nhiều người không nhìn thấy được rõ mà chỉ thấy một... màn khói trắng tỏa mù mịt dù đứng giữa trung tâm Sài Gòn.
Ðêm giao thừa xem “countdown” trên đường Nguyễn Huệ, Sài Gòn. (Hình: Patrick Nguyen)

Cù Huy Hà Vũ tiếp tục liên lạc ‘người có quyền lợi’

Mời RFA, Vietnamexodus ra làm chứng

HÀ NỘI 2-1 (TH) - Luật Sư Nguyễn Thị Dương Hà, luật sư bào chữa cho tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, gửi thư cho đài RFA và báo mạng Vietnamexodus đề nghị “tham gia tố tụng” trong tư cách “người có quyền lợi, nghĩa vụ” liên quan đến vụ án.
Các văn bản đề nghị này được phổ biến trên mạng Bauxite Vietnam và một số trang mạng khác tiếp theo sau văn bản “đề nghị tham gia tố tụng” được gửi tới chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết.
Ðề nghị gửi tới chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết vì ông Cù Huy Hà Vũ bị tố cáo tội “tuyên truyền chống nhà nước” theo điều 88 của Bộ Luật Hình Sự của chế độ. Ông Vũ yêu cầu ông Triết tới để bảo vệ cho quyền lợi của “bị hại” là nhà nước CHXHCNVN.
Sau khi gởi đơn đề nghị đến Chủ Tịch Triết và đài VOA trong vai trò “người có quyền lợi, nghĩa vụ” liên quan đến vụ án, ông Cù Huy Hà Vũ tiếp tục gởi đơn đề nghị đến hai nơi nữa, là đài RFA ở Hoa Kỳ và bà Nguyễn Thị Trâm Oanh ở Ðức, phóng viên báo điện tử Vietnamexodus và tạp chí Thế giới Ngày Nay tại Hoa Kỳ, là những nơi đã từng phỏng vấn ông. Những bài phỏng vấn ông Cù Huy Hà Vũ trên đài RFA và trên Vietnamexodus nằm trong số những “tài liệu” mà Việt Nam dùng để truy tố ông Hà Vũ.
Trong đơn gởi bà Trâm Oanh, ông viết:
“Tôi, Cù Huy Hà Vũ khẳng định việc trả lời của quý bà là hoàn toàn hợp pháp, cụ thể để thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân Việt Nam được Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001) của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam quy định tại điều 69, thực hiện quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp được quy định tại điều 19 Công Ước Quốc Tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 mà nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã tham gia ký kết (đã gia nhập) vào 24 tháng 9, 1982 và do đó việc tôi trả lời phỏng vấn của quý bà không phải là hành vi phạm tội mà ngược lại là thực hiện các quyền cơ bản của con người Việt Nam được Hiến pháp và Công Ước Quốc Tế về Các Quyền Dân Sự và Chính Trị năm 1966 bảo hộ.”
Ông Vũ viết trong lá đơn đề nghị gửi bà Trâm Oanh như vậy, cũng tương tự như đơn gửi cho đài RFA ở Hoa Thịnh Ðốn.
Trong cáo trạng, ông Cù Huy Hà Vũ bị buộc tội đã trả lời đài RFA trong đó ông cho rằng “Phải đa đảng mới chống được lạm quyền” ngày 1 tháng 2 năm 2010.
Ngay sau khi nhận được đề nghị của ông Cù Huy Hà Vũ, bà Trâm Oanh đã trả lời bằng văn bản, nhận lời tham gia tố tụng. Bà viết:
“Tôi là Trâm Oanh công dân nước Ðức, thành viên của Tổ Chức Phóng Viên Không Biên Giới (R.O. G), phóng viên báo điện tử Vietnamexodus và tạp chí Thế Giới Ngày Nay tại Hoa Kỳ. Trước tiên gởi tới bà lời chào trân trọng.”
“Ngày 30 tháng 12, 2010 tôi có nhận được văn bản đề nghị tham gia tố tụng của quý bà và ông Cù Huy Hà Vũ. Tôi đồng ý nhận lời.”
Ông Cù Huy Hà Vũ, 57 tuổi, bị bắt ngày 5 tháng 11, 2010 ở Sài Gòn. Cùng một ngày nhà ông đã bị ruồng xét và tịch thu nhiều thứ tài sản, đồ đạc, trong đó gồm cả số tiền 200 triệu đồng. Bà Nguyễn Thị Dương Hà, vợ ông Vũ đã làm đơn đòi lại tất cả nhưng không thấy trả. Ðến nay, chỉ thấy trả lại cho bà những thứ tịch thu ở Sài Gòn, trong đó các CD, dụng cụ đựng dữ liệu vi tính đã bị đập bẹp, không sử dụng được.
Bà Hà đã làm đơn tố cáo gửi tới Ủy Ban Tư Pháp của Quốc Hội Hà Nội tố cáo việc bắt giam ông là trái luật.

Nạn mãi dâm phục vụ tận nhà riêng

SÀI GÒN 3-1 (VNN) - Gái điếm ở Sài Gòn không chỉ nhan nhản trên các con đường mang tên Nguyễn Thị Minh Khai (quận 3), Lê Hồng Phong (quận 10), Ðiện Biên Phủ (quận 1) mà còn xuất hiện công khai trên các mẫu rao vặt của báo mạng núp bóng hình thức xoa bóp - một nghề lương thiện như ai.

Báo mạng VietNamNet kể chuyện các cô “thẳng tuột” đặt vấn đề với quý ông khách hàng: “Anh muốn massage từ A tới Z thì tìm sẵn khách sạn, nhận phòng rồi a lô cho em. Em tới phục vụ liền”. Hầu hết “quý ông” đều biết “mánh phục vụ từ A đến Z” của các cô nhân viên massage với tên gọi rất kêu là “kỹ thuật viên”. Một cô tên V. tâm sự: “Hai năm qua, tôi làm việc tại một tiệm massage ở đường Ba Tháng Hai suốt từ 2 giờ chiều hôm trước cho tới 5 giờ sáng hôm sau và còn bị buộc phải chia cho chủ 30% tiền tip. Nản lòng quá, tôi đành nhảy ra tự làm lấy, được bao nhiêu ăn bấy nhiêu cho sướng.”
Một cô khác còn cho biết, giá “massage riêng tư” là 500,000 đồng, còn muốn được “vui trọn vẹn” thì khách phải trả gấp đôi, tức 1 triệu đồng. “Bảo đảm chỉ cần 1 tiếng đồng hồ là quý anh hài lòng, mãn nguyện”, lời nói chắc như đinh đóng cột của cô V.
Với kiểu hành nghề “tự do bay nhảy”, các cô gái massage tha hồ hoạch định cho mình một “kế hoạch”. Một cô chẳng ngại than thở với khách hàng gọi phone: “Em vừa bay hai ngày ở Phan Thiết với một ông khách ở quận 5 nên còn mệt quá. Hẹn anh ngày mai nhé”.
Nơi “hẹn hò” của các cô thường là các khách sạn ở vùng xa trung tâm như Gò Vấp, Tân Bình... và phải là khách sạn “ruột” để không bị “quấy rầy”. Có những ông khách “bạo phổi” mời “kỹ thuật viên” đến tận nhà để khỏi trả tiền khách sạn và nhất là được “an toàn tuyệt đối”, đặc biệt vào những lúc bà xã vắng nhà hoặc đi “công tác xa”. Thật khó tưởng tượng nổi, nạn mãi dâm núp bóng hình thức xoa bóp đã vào tận nhà riêng của một số “quý ông” ở Sài Gòn hiện nay. Thực trạng này lan rộng đến nỗi các chủ tiệm massage thứ thiệt lắc đầu kêu trời: “Ðó là các cô gái không có nghề massage thật sự, mà chỉ đấm bóp sơ sơ rồi xoay qua... bán dâm cho khách. Họ làm tụi tôi mang tiếng hết trơn.”

Mốt mới của dân thành thị: Ngủ khách sạn mừng năm mới

VIỆT NAM 3-1 (VNN) - Từ đêm giao thừa Tết Dương lịch, hầu hết nhà trọ ở Hà Nội kín chỗ. Năm nay, giới trẻ Hà thành chọn nhà trọ làm nơi nghỉ qua đêm để đón Tết Dương lịch 2011.
Theo báo VietNamNet, từ 1 giờ sáng ngày 1 tháng 1, 2011, các nhà trọ nằm trên đường Trần Duy Hưng, Khương Trung, Nguyễn Trãi... đều treo bảng “Hết phòng cho thuê” mặc dù giá tăng gấp đôi, từ 140,000 đồng vọt lên 300,000 đồng/ngày đêm, tương đương với 15 Mỹ kim.
Thật ra, thuê nhà trọ nghỉ qua đêm để đón năm mới đã trở thành “mốt thời thượng” vài năm gần đây trong nước. Một thương gia trẻ ở Sài Gòn đã chọn khách sạn H.N. ở đường Nguyễn Huệ, Sài Gòn để đón giao thừa cùng với gia đình.
Căn nhà nhỏ của anh trong một ngõ hẻm quận Ba tạm thời đóng kín cửa. Anh Nguyễn H. nói: “Chúng tôi muốn được tận hưởng những thời khắc thú vị nhất trong năm bằng cách tách khỏi khung cảnh quen thuộc hàng ngày. Ðến ở phòng khách sạn, thưởng thức những món ăn lạ của nhà hàng ở tầng trệt, dạo phố Xuân vào ngày mùng 1 Tết Dương lịch. Chúng tôi không muốn tiếp khách, cũng không muốn gặp bất cứ ai, mà dành hết thời gian cho gia đình riêng của mình. Chúng tôi muốn được tận hưởng những giờ phút thật sự thoải mái, an nhàn từ những ngày đầu năm mới”.
Cũng theo anh H., trước đây vợ chồng anh từng đón giao thừa ở Bangkok (Thái Lan), hoặc ở Singapore, Mã Lai... Nhưng giờ đây gia đình có thêm hai bé trai, anh quyết định đón giao thừa tại trung tâm Sài Gòn cho đỡ tốn vé máy bay mà không khí vui Xuân không hề giảm bớt.

LS Nguyễn Thị Dương Hà xin bảo lãnh cho chồng tại ngoại

HÀ NỘI 3-1 (TH) - Nữ Luật Sư Nguyễn Thị Dương Hà làm đơn đứng ra bảo lãnh cho chồng được tại ngoại.
Ngày 30 tháng 12 năm 2010, bà Nguyễn Thị Dương Hà cùng người em chồng là bà Cù Thị Xuân Bích đã làm đơn gửi chánh án tòa án thành phố Hà Nội đứng ra bảo lãnh cho chồng là tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ được tại ngoại, căn cứ theo điều 92 của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự.
Ðây là lần thứ hai có đơn xin bảo lãnh cho ông Cù Huy Hà Vũ tại ngoại. Ngày 6 tháng 11 năm 2010, bà Cù Thị Xuân Bích đã làm đơn xin bảo lãnh cho anh ruột được tại ngoại, nhưng không thấy được trả lời. Nay hai bà cùng đứng trong một lá đơn gửi cho tòa án.
Trong đơn, hai bà cho hay ông Vũ bị bệnh tim bẩm sinh, đang được điều trị bằng thuốc ở trong nhà tạm giam công an B14. Nay bệnh ông có dấu hiệu nặng ra, cần được săn sóc sức khỏe kỹ lưỡng hơn ở bên ngoài.
Không có lý do gì giữ một con bệnh tim nặng ở trong nhà tạm giam vì “việc điều tra đã kết thúc”.
“Bản thân ông Cù Huy Hà Vũ là tiến sĩ luật, có nhân thân tốt, gia đình có công với nước (bố là ông Cù Huy Cận, người đã cùng Hồ Chí Minh và một số vị lãnh đạo cách mạng ký tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, bố nuôi là ông Ngô Xuân Diệu, lão thành cách mạng, mẹ là bà Ngô Thị Xuân Như, nguyên y tá của Chủ Tịch Hồ Chí Minh).” Ðơn xin bảo lãnh viết như vậy và hai bà cam đoan “nếu ông Cù Huy Hà Vũ được tại ngoại sẽ giám sát và bảo đảm ông Vũ thường xuyên có mặt tại nhà 24 Ðiện Biên Phủ, Hà Nội. Ngoài ra chúng tôi cam đoan khi có giấy triệu tập của tòa án hoặc của các cơ quan tố tụng khác ông Vũ sẽ có mặt theo đúng giấy triệu tập”.
Ngày 30 tháng 12 năm 2010, bà Nguyễn Thị Dương Hà, nhân danh luật sư của ông Cù Huy Hà Vũ đã chuyển lời đề nghị của “bị cáo” đến đài phát thanh Á Châu Tự Do, đài VOA, đến Tổ Chức Không Biên Giới, ra tòa làm chứng cho “bị cáo”. Trước đó, bà cũng chuyển lời yêu cầu của “bị cáo” mời chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tới tòa “tham gia tố tụng” để bảo vệ quyền lợi của “nguyên cáo” là nhà nước CHXHCNVN.
Ông Cù Huy Hà Vũ, 57 tuổi, bị vu cho tội “tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN” theo điều 88 của Bộ Luật Hình Sự của chế độ. Ðiều luật này bị các chính phủ Tây phương, các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế đả kích là trái với Công Ước Quốc Tế về Các Quyền Dân Sự và Chính Trị mà chế độ Hà Nội đặt bút ký cam kết tuân hành.
Ông trả lời các báo đài ngoại quốc kêu gọi đa nguyên đa đảng. Ông cũng đã nộp đơn kiện ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng 2 lần vì cho rằng ông này đã phạm luật khi cho phép khai thác bauxite và cấm dân chúng khiếu kiện tập thể.
Vụ án ông Cù Huy Hà Vũ sẽ được dư luận trong ngoài nước theo dõi sát.
Ông Cù Huy Hà Vũ, bị bắt ngày 5 tháng 11 năm 2010 ở Sài Gòn. Cùng một ngày nhà ông đã bị ruồng xét và tịch thu nhiều thứ tài sản, đồ đạc, trong đó gồm cả số tiền 200 triệu đồng. Bà Nguyễn Thị Dương Hà, vợ ông Vũ đã làm đơn đòi lại tất cả nhưng không thấy trả. Ðến nay, chỉ thấy trả lại cho bà những thứ tịch thu ở Sài Gòn, trong đó các CD, dụng cụ đựng dữ liệu vi tính đã bị đập bẹp, không sử dụng được.
Bà Hà đã làm đơn tố cáo gửi tới Ủy Ban Tư Pháp của Quốc Hội Hà Nội tố cáo việc bắt giam ông là trái luật.

Du học sinh Việt bị tố cáo ăn cắp hàng triệu đô la

WINONA, Minnesota (Star Tribune) - Hai du học sinh Việt Nam vừa bị tố cáo ăn cắp hàng triệu đô la bằng cách dùng danh tánh của người này, mua hàng trên mạng, rồi bán cho người khác, lấy tiền chuyển vào ngân hàng Mỹ, sau đó chuyển qua ngân hàng ngoại quốc, rồi rút tiền mặt ra.



Hình minh họa. (Hình: Attorney General, Utah)
Theo bản tin của báo The Star Tribune, hành vi của hai sinh viên Tram Vo và Khoi Van, đều 22 tuổi, hiện là sinh viên du học, loại F1 visa, tại đại học Winona State University, Minnesota, bị nhân viên điều tra Bộ Nội An Hoa Kỳ phát hiện khi thực hiện chiến dịch “Operation eMule” nhằm ngăn chặn tội phạm trên mạng ăn cắp hàng triệu đô la của khách hàng.
Nhân viên điều tra phát hiện hai sinh viên du học Việt Nam ăn cắp gần $1.25 triệu và chuyển hầu hết số tiền này vào tài khoản ở Việt Nam và Canada, theo tờ khai hữu thệ của ông Daniel Schwarz, nhân viên điều tra Bộ Nội An, tại tòa. Ông Schwarz đang điều tra vụ này với cơ quan National Cyber Crimes Center (C3) tại Washington, D.C. Cơ quan này là một phần của Cơ Quan Cảnh Sát Di Trú và Quan Thuế Hoa Kỳ (ICE).
“Ðây là một vụ lớn,” ông Jason Calhoun nói. Ông là người chuyên điều tra gian lận của công ty Rosetta Stone, một công ty bị hai sinh viên sử dụng thẻ tín dụng để ăn cắp tiền.
Nhiều công ty khác cũng bị dính vào vụ ăn cắp này như eBay, PayPal, Amazon, Apple, Dell và Verizon Wireless, theo tài liệu của tòa án liên bang và ông Calhoun.
Nhân viên điều tra nói rằng hai sinh viên du học này ăn cắp danh tánh của người khác rồi mở tài khoản ở eBay, PayPal và các ngân hàng của Mỹ. Qua những tài khoản này, hai sinh viên bán những mặt hàng cao giá và được ưa chuộng với giá thấp hơn. Mặt hàng họ mua được trả bằng tài khoản mà họ dùng danh tánh ăn cắp được của nạn nhân để đặt mua trước đó. Khi nạn nhân phát hiện bị tính tiền cho món hàng họ thật sự không mua và phản đối với công ty bán, sự việc được báo cho chính quyền liên bang.
Hai sinh viên này kiểm soát hơn 180 tài khoản trên eBay và hơn 360 tài khoản tại PayPal do họ sử dụng danh tánh ăn cắp được, theo tài liệu do chánh án tòa công bố tại St. Paul hôm 29 tháng 12, 2010.
Bà Susan Higginbotham, 49 tuổi, cư dân Bemidji, là một trong những nạn nhân của vụ ăn cắp này. Bà khám phá một ai đó ăn cắp danh tánh của bà hồi tháng 1 khi bà nhận một lá thư của ngân hàng gởi về nhà chào mừng bà trở thành khách hàng mới.
“Có khi tôi nhận được bảy hoặc tám lá thư một ngày. Và tiếp tục nhận trong nhiều này,” bà Higginbotham nói hôm Thứ Sáu. Rồi sau đó là giấy đòi nợ của eBay cho món hàng mà bà không bao giờ mua.
Bà Higginbotham, một cô giáo ở Bagley, Minnesota, sau đó báo cáo sự việc cho công ty dịch vụ pháp lý Identity Theft Shield để điều tra.
“Họ điều tra một cách tuyệt vời,” bà nói.

Cuộc điều tra đang tiếp tục

Báo Star Tribune không tìm được sinh viên Tram Vo để phỏng vấn. Còn sinh viên Khoi Van thì từ chối cho biết ý kiến. Nhân viên di trú Mỹ từ chối cho biết về tình trạng hiện tại của hai sinh viên này hôm Thứ Sáu, nói rằng sự việc là một phần của “cuộc điều tra tội phạm đang tiến hành.” Tuy vậy, hiện chưa thấy tài liệu truy tố chính thức hai sinh viên này.
Ông Calhoun nói các nhà điều tra của C3 phát hiện một tổ chức tội phạm tại Việt Nam trong khi điều tra một vụ khác tại công ty Rosetta Stone hồi năm 2008.
Chiến dịch “Operation eMule” chính thức bắt đầu hồi tháng 9, 2009 nhằm điều tra các nhóm tội phạm tại Việt Nam thường nhắm vào các công ty buôn bán trên mạng. Nhân viên điều tra ước lượng các nhóm này cung cấp “hàng trăm triệu đô la” vào thị trường chợ đen Việt Nam, theo tờ khai hữu thệ.
Ông Schwartz nói trong tờ khai rằng nhóm này bao gồm một “hệ thống phức tạp” có những chuyên gia, bao gồm kẻ tấn công trang mạng, người bán danh tánh và thông tin tài chánh ăn cắp và người chuyển tiền. Kẻ gian liên lạc với nhau qua một hệ thống trang mạng mà “chỉ có họ” mới tiếp cận được.
Các mặt hàng được họ bán thường là software, trò chơi điện tử, sách và thẻ Apple iTunes gift card.
Trong khi đó, số tiền kiếm được qua các “thương vụ” này được chuyển vào tài khoản của ngân hàng Mỹ, sau đó được chuyển vào các tài khoản khác ở nước ngoài để rút tiền mặt ra.
“Những sinh viên ngoại quốc này tưởng rằng không ai có thể đụng tới họ,” ông Calhoun nói.
Chiến dịch “Operation eMule” đạt được nhiều kết quả trong đó có việc xâm nhập vào các nhóm tội phạm trên mạng ở Việt Nam, theo tài liệu tại một hội nghị chống tội phạm vừa tổ chức ở Seattle, Washington.

Bị gài

Ông Craig Sorum, một nhân viên điều hành văn phòng FBI ở Minneapolis, chuyên chống tội phạm trên mạng, nói trong một cuộc phỏng vấn là hầu hết người phạm tội bị dụ gài vào các vụ làm ăn phi pháp như vậy. Trong nhiều trường hợp, ông nói, họ được những kẻ phạm tội giả làm công ty mua bán tuyển mộ và hứa trả lương cao.
Hồ sơ của PayPal cho thấy Tram Vo có 24 tài khoản eBay và ít nhất 56 tài khoản được mở dưới danh tánh ăn cắp được, theo tờ khai hữu thệ. Và có khoảng $247,000 được chuyển qua các tài khoản này. Nữ sinh viên này cũng có ít nhất 26 tài khoản tại các ngân hàng Wells Fargo, Capital One, Eastwood và HSBC dưới danh tánh ăn cắp được, theo tài liệu của liên bang.
Các tài khoản này nhận tổng cộng $352,676 và chuyển gần $200,000 qua Việt Nam hoặc Canada.
Các điều tra viên nói sinh viên Khoi Van có liên quan tới 157 tài khoản tại eBay và 130 tài khoản tại PayPal. Sinh viên này vừa đoạt giải thưởng sinh viên ngành sinh học xuất sắc nhất tại đại học Winona State University. Tờ khai hữu thệ tại tòa cho biết hơn $1 triệu được chuyển qua các tài khoản này. Sinh viên này mở ít nhất sáu tài khoản tại hai ngân hàng Wells Fargo và Eastwood bằng danh tánh ăn cắp được.
Các tài khoản này nhận tổng $524,000 và chuyển $480,020 qua Việt Nam.
“Tôi không hiểu sao anh ta có thời gian để làm việc này. Anh phải dành thời gian để học,” ông Thomas Nalli, giáo sư hóa học tại đại học Winona State University, người từng làm việc sát cánh với sinh viên Khoi Van, nói hôm Thứ Bảy. “Tôi hy vọng những tố cáo này là không có thật.”
Cơ quan công lực liên bang nói rằng họ có bằng chứng đáng tin cậy là hai sinh viên du học này có liên hệ tới ăn cắp danh tánh và rửa tiền. (Ð.D.)

Nhìn lại kinh tế Việt Nam năm 2010

Trong loạt tổng kết về năm 2010, một đề tài không thể thiếu chính là tình hình kinh tế Việt Nam.
Sau hai năm thế giới bị tổng suy trầm thì cùng các nước Đông Á ngoài Nhật Bản, Việt Nam đã sớm đạt mức tăng trưởng khá cao và năm 2010 là thời điểm mà Tổng sản lượng Nội địa xứ này đã vượt cái mốc đáng chú ý là đạt 100 tỷ Mỹ kim một năm. Nhưng kinh tế Việt Nam cũng có nhiều rủi ro rất đáng quan ngại. Qua phần thực hiện của Vũ Hoàng, sau đây là tổng kết của nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa, người phụ trách tiết mục Diễn đàn Kinh tế.

Những điểm tích cực

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Cùng một nhóm các quốc gia Đông Á, Việt Nam đã sớm ra khỏi nạn suy trầm toàn của hai năm 2008-2009 và đạt tốc độ tăng trưởng khá ngoạn mục là gần 7% một năm. Nhìn lại thì tình hình trong năm 2010 quả là không đến nỗi tệ. Nhưng vì sao đến cuối năm thì dư luận mọi nơi bắt đầu tỏ vẻ ngờ vực và e ngại nhiều rủi ro cho Việt Nam?
Nguyễn Xuân Nghĩa: “Thưa khi kinh tế thế giới bị suy trầm thì đà sa sút của Việt Nam lại không quá nặng vì kinh tế vẫn tăng trưởng hơn 5% vào năm 2009, là năm mà lợi tức bình quân một đầu người đã vượt cái ngưỡng tâm lý là 1.000 Mỹ kim một năm.
Như nhiều quốc gia khác khi thấy kinh tế toàn cầu bị đình đọng, Việt Nam cũng ban hành biện pháp kích thích, chủ yếu là tăng chi để đẩy mạnh đầu tư trong khu vực công và bơm thêm tín dụng vào hệ thống ngân hàng. Nhờ vậy mà kinh tế sớm phục hồi và đáng chú ý nhất là sức đẩy của tiêu thụ nội địa có phần nào bù đắp cho đầu máy xuất khẩu vì sự co cụm của các thị trường tiêu thụ trên thế giới. Nhìn như vậy thì ta thấy là cuộc sống người dân tương đối không bị ảnh hưởng quá nặng của nạn suy trầm như tại nhiều quốc gia khác. Đấy là một điểm tích cực rất đáng chú ý cho toàn năm 2010. Tuy nhiên....”
Vũ Hoàng: Khi ông nhắc tới "tuy nhiên"... thì nghĩa là chúng ta phải thấy ra mặt trái của vấn đề khiến dư luận quan ngại?
Nguyễn Xuân Nghĩa: “Thưa đúng vậy. Thứ nhất là khi nhìn vào vế cung thì lực đẩy của đà tăng trưởng ấy đến từ một lượng đầu tư rất lớn, phải nói là quá lớn, chủ yếu lại do tăng chi của chính phủ để dồn vào doanh nghiệp nhà nước. Với hiệu năng kém, chỉ bằng một phần tám của khu vực tư doanh, lượng đầu tư ấy là một lãng phí. Nền kinh tế này sống bằng thuốc bổ, mà là loại thuốc tốn kém vì phải đầu tư hơn 40% mà để chỉ tăng sản lượng được gần 7% thì Việt Nam mệt sức gấp đôi các xứ khác. Đó là một lẽ đáng lo nếu muốn nghĩ đến việc cạnh tranh cùng thiên hạ, dù mới chỉ là cạnh tranh để thu hút đầu tư nước ngoài.
Thứ hai là trong năm qua, Việt Nam cũng chính thức nhận được tiền tươi do người Việt bên ngoài gửi về, ít ra là tám tỷ đô la, tức là 8% của tổng sản lượng. Như vậy, còn phải tính đến liều thuốc bổ miễn phí đó chứ? Sự kiện ấy cho thấy thực chất của đà tăng trưởng 7%, một con số ảo. 


Thứ ba, nói về đầu tư nước ngoài, thì năm qua, Việt Nam hụt mất cơ hội huy động đầu tư với ngạch số sút giảm hẳn so với hai năm trước. Lý do không chỉ hoàn cảnh sa sút của thiên hạ mà còn vì sự yếu kém và bất trắc của môi trường đầu tư đã đánh sụt niềm tin của thiên hạ.”

Những bất trắc

Vũ Hoàng: Nói về những bất trắc đó thì chúng ta thấy là trong tháng cuối năm, các công ty thẩm định trái phiếu của Việt Nam đều đánh sụt mức tin tưởng. Trái phiếu Việt Nam không là một khí cụ đầu tư hấp dẫn mà trở thành "junk bonds" hay giấy lộn. Vì sao kinh tế xứ này đạt mức tăng trưởng ngoạn mục mà các công ty như Moody's hay Standard & Poor's lại nghi ngờ?
Nguyễn Xuân Nghĩa: “Đó là bất trắc về cơ cấu kinh tế vĩ mô, thứ nhất là sự thiếu quân bình, thứ hai là khả năng đối phó quá yếu của chính quyền.
Thiếu quân bình đầu tiên là Việt Nam bị bội chi đáng ngại khi tăng chi để đầu tư một cách tốn kém và vất vả như tôi vừa trình bày. Mất cân xứng thứ hai là Việt Nam bị nhập siêu quá nặng vì xuất khẩu tăng không mạnh và nhập khẩu thì vẫn quá nhiều để duy trì nhịp độ sản xuất. Hậu quả là khối dự trữ ngoại tệ của Việt Nam bị bào mỏng, nay chỉ còn có 14 tỷ đô la dằn lưng thì không thể ứng phó với biến động thị trường. Và thị trường thấy như vậy thì càng sợ và gây sức ép lên đồng bạc, với giá tự do đã vượt giá chính thức tới 15%. Kinh tế Việt Nam đang bị rung chuyển về ngoại hối. Lý do ở đây không phải là vì Việt Nam định tỷ giá đồng bạc quá cao mà vì cán cân vãng lai bị thiếu hụt ngoại tệ quá nặng.”

Vũ Hoàng: Ông vừa nhắc đến hai nguyên nhân bất trắc là sự thiếu cân đối vĩ mô và khả năng đối phó quá yếu của chính quyền. Như vậy, tình hình năm 2010 rất đáng chú ý ở khả năng ứng phó này?
Nguyễn Xuân Nghĩa: “Lãnh đạo Việt Nam chỉ nhìn vào con số tăng trưởng sản xuất là gần 7% rồi coi đó là vinh mà không thấy nỗi cực là phải đầu tư hơn 40% sản lượng mới đạt con số ấy. Và vì tiết kiệm nội địa chỉ ở khoảng 30% thì phải nhập tư bản bên ngoài quãng 10% nữa mới đủ. Tức là đi vay thuốc bổ để chạy đua với thiên hạ! Cho nên phải nhìn ra phẩm chất và hiệu năng rất kém của đầu tư mà tìm cách cải thiện. Đó là chuyện kém khả năng cải tổ cơ cấu 25 năm sau đổi mới.
Chuyện thứ hai là khả năng ổn định vật giá. Việt Nam có "truyền thống" bị lạm phát cao hơn các lân bang và vừa bị một trận vào đầu năm 2008 thì lại lãnh nạn suy trầm toàn cầu nên ào ạt bơm tiền kích thích kinh tế, bây giờ lại thấy lạm phát bùng nổ vì vật giá đã tăng quá hai số. Khi kinh tế đã hội nhập vào thế giới thì Việt Nam sẽ còn nhập khẩu lạm phát nữa. Các cơ quan hữu trách về chính sách tiền tệ đang bị những thách đố quá khả năng đối phó và nguy cơ lạm phát càng dội ngược vào giá trị bấp bênh của đồng bạc khiến vấn đề ngoại hối càng nguy kịch. Tức là sau khi đã tưởng thoát nạn suy trầm Việt Nam sẽ phải vừa nâng lãi suất vừa phá giá đồng bạc.”


Những biến cố

Vũ Hoàng: Hồi nãy, ông có ví von là Việt Nam đi vay thuốc bổ để chạy đua khi phải nhập vào một lượng tư bản bằng 10% sản lượng để đầu tư được hơn 40% hầu có mức tăng trưởng là 7%. Chuyện đi vay khiến ta liên tưởng đến biến cố trong năm là vụ Vinashin vỡ nợ.
Nguyễn Xuân Nghĩa: “Vụ Vinashin chỉ là mặt nổi của nhiều sai lầm còn trầm trọng hơn mà ta sẽ còn thấy sau này.
Trước hết là chuyện vay mượn. Gánh nặng công trái, là nợ nần của khu vực công, đã lên tới mức đáng ngại là hơn phân nửa tổng sản lượng. Trong số đó, ngoại trái là nợ ngoại quốc lại chiếm tới 60%. Nói cho dễ hiểu, khi dân Việt Nam sản xuất ra trăm tỷ thì nhà nước đi vay hơn 51 tỷ, trong số đó hơn 31 tỷ là nợ nước ngoài. Đấy là một vấn đề đáng chú ý cho năm 2010.
Nguy kịch hơn vậy là, do thủ thuật kế toán, Việt Nam không tính trong gánh nặng công trái đó các khoản nợ của doanh nghiệp nhà nước, sở dĩ đi vay được là nhờ có nhà nước đứng sau lưng. Nếu tính cho đúng thì gánh nợ ấy còn cao hơn nhiều, có thể là 40 tỷ nữa, tức là so với sản lượng quốc dân của cả năm được 100 tỷ, nhà nước đi vay 51 tỷ và còn phải trả nợ cho con em là các doanh nghiệp của nhà nước quãng 40 tỷ. Vị chi là hơn 90 tỷ!
Thế rồi đi vay để làm gì? Để thực hiện các dự án đầu tư của khu vực công có hiệu năng rất thấp hay để doanh nghiệp nhà nước đốt pháo bông theo kiểu Vinashin thì có phi lý và bất công không? Những ai có lợi trong chuyện vay mượn như kẻ vén tay áo sô thế này?”
Vũ Hoàng: Tổng kết lại thì đằng sau con số tăng trưởng ngoạn mục là rất nhiều vấn đề u ám của năm 2010. Ông kết luận như thế nào?
Nguyễn Xuân Nghĩa: “Cả thế giới có thiện cảm với Việt Nam và mong người dân có cuộc sống khá giả hơn nhưng chỉ một thiểu số rất nhỏ là được như vậy mà thôi, nay thế giới bỗng chột dạ!
Năm 2010 là năm mà đảng Cộng sản chuẩn bị Đại hội khóa 11 nên phải thi thố tài năng. Tài năng ấy đã được kiểm chứng rành rành - và bị thế giới hạ điểm liên tục - vậy mà sự thể vẫn chưa thấm vào các văn kiện cho Đại hội đảng! Người ta vẫn vi vu chuyện trên mây mà không nhìn vào thực tế bi đát của dân chúng. Đáng lẽ, người ta nên rút tỉa bài học của năm 2010 để cải tiến khả năng và cải tổ lại cơ chế kinh tế, chấm dứt chuyện hoang phí vô lường là các tập đoàn và tổng công ty nhà nước và giải phóng sức sản xuất của tư doanh.
Nếu có phải dự đoán thì qua năm 2011, đảng Cộng sản sẽ thành một "đảng đa nguyên", gồm nhiều phe phái tranh giành để chia chác quyền lợi kinh tế theo cái kiểu phi lý và bất công đó, cho tới khi bùng nổ khủng hoảng.”
Vũ Hoàng: Xin cám ơn Ông Nguyễn Xuân Nghĩa.

Xuất khẩu gạo 2011 giảm 1 triệu tấn

Giá gạo thế giới tăng cao nhưng Hiệp Hội Lương Thực Việt Nam dự báo sẽ chỉ xuất khẩu từ 5,5 triệu tới 6 triệu tấn gạo trong năm nay 2011. Nông dân trong mùa gặtNguyên nhân nào dẫn tới việc ngành lương thực ấn định một chỉ tiêu tương đối ôn hòa như vậy.  Nam Nguyên trình bày vấn đề này:

Tồn kho 2010 quá thấp

Sau khi đạt mức xuất khẩu gạo kỷ lục 6,8 triệu tấn trị giá 3,23 tỷ USD trong năm 2010, năm nay Bộ Nông Nghiệp Phát Triển Nông Thôn và Hiệp Hội Lương Thực Việt Nam VFA dự kiến tổng lượng gạo xuất khẩu có thể giảm trên dưới 1 triệu tấn.
Thông tin này được công bố ngay trước thềm tân niên 2011, vào khi có những dự báo giá gạo thế giới có thể tăng gấp ba lần trong 18 tháng sắp tới, do nhu cầu tiêu thụ tăng trong khi nguồn cung cấp bị thắt chặt.
Cơ quan chức năng thường đặt mục tiêu xuất khẩu trọn năm theo dự báo an ninh lương thực và sản lượng lúa gạo cả nước, thị trường tiêu thụ và nguồn cung cấp trên thế giới.    
Nhận định về vấn đề này, TS Phạm Văn Dư Cục phó Cục Trồng trọt phát biểu từ Cần Thơ:
“Hiện nay chúng tôi vẫn đẩy mạnh sản xuất đặc biệt về lúa gạo, hỗ trợ bà con nông dân những tiến bộ kỹ thuật mới để họ  tránh những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và những tác động khác có thể ảnh hưởng tới sản lượng và năng suất. Tôi nghĩ rằng trong những năm tới tình hình sản xuất lúa gạo của Việt Nam sẽ vẫn rất tốtThời báo Kinh tế Việt Nam ngày cuối năm 2010 trích lời ông Phạm Văn Bảy, Phó chủ tịch VFA giải thích rằng kế hoạch xuất khẩu gạo năm 2011 giảm là vì lượng tồn kho thấp gần một nửa so với mọi năm. Cụ thể hết năm 2010 các doanh nghiệp tồn kho 800 ngàn tấn gạo, trong khi cùng kỳ năm trước tồn kho lên đến 1,4 triệu tấn. Người đại diện VFA còn cho biết là, lượng gạo các doanh nghiệp đã ký giao hàng trong quí 1 này chỉ đạt 500 ngàn tấn bằng 1/5 so với cùng kỳ năm trước.
Cả Hiệp Hội VFA lẫn Bộ NN-PTNT đều không đưa ra dự báo gì về sản lượng lúa gạo năm nay 2011. Trong khi miền Trung lũ chồng lũ, miền Bắc hạn hán, đồng bằng sông Cửu Long lũ không về, không đem phù sa bồi đắp cho đồng ruộng. Ngoài ra 13 tỉnh khu vực này lại chịu mưa cuối vụ kéo dài ảnh hưởng kế hoạch vụ đông xuân. Thông thường miền Bắc miền Trung chú trọng các loại lúa lai để phục vụ nhu cầu lương thực, trong khi đồng bằng sông Cửu Long ngoài thị trường nội địa còn cung cấp hầu như toàn bộ lượng gạo xuất khẩu của cả nước.

Ảnh hưởng vật giá và biến đổi thời tiết

Vụ đông xuân vụ lúa lớn nhất ở đồng bằng sông Cửu Long với sản lượng trung bình 9 tới 10 triệu tấn lúa chất lượng tốt, nhưng vụ đông xuân 2010-2011 còn tiềm ẩn nhiều bất trắc, như nhận định của TS  Dương Văn Ni Giám đốc Trung Tâm nghiên cứu thực nghiệm đa dạng sinh học Hòa An Viện Đại Học Cần Thơ:
“Mùa lúa sắp tới nông dân đồng bằng sông Cửu Long phải đối diện ba, bốn khó khăn. Ngoài khó khăn về phân bón thuốc sâu tăng, tiếp theo là nước mặn vì khi lũ thấp như vậy nước mặn sẽ xâm nhập vào rất sớm và có khả năng xâm nhập rất sâu, như vậy rất nhiều nơi ở vùng mặn ngọt ven biển sẽ bị thiếu nước ngọt rất sớm. Hơn nữa lũ thấp như vậy nó không bổ xung vào hệ thống lưu trữ tự nhiên trong đồng ruộng, năm nay chi phí bơm nước sẽ tăng rất cao. Và dĩ nhiên thiếu lũ còn ảnh hưởng vệ sinh môi trường dịch bệnh…”    
Thời tiết năm nay không thuận lợi cho vùng đồng bằng sông Cửu Long, nơi vừa thiếu lũ lại chịu mưa cuối vụ kéo dài bất thường, ảnh hưởng sản xuất của nông dân. Một người trồng lúa vùng đồng bằng sông Cửu Long phát biểu:
“Hiện tại cũng có người phải sạ hai lần rồi, do bơm nước không kịp bị ốc bưu vàng cắn lúa chết. Ở đây làm đông xuân sớm,

Gạo xuất khẩu. AFP
Gạo xuất khẩu. AFP
có nghĩa sẽ cắt lúa khoảng Tết âm lịch. Thấy cái khó khăn trước  mắt rất là nhiều, khó khăn trăm bề giá phân bón cũng lên mà có ngưới phải sạ lúa đến hai lần.”
Trên thực tế vụ đông xuân ở đồng bằng sông Cửu Long đã bị ảnh hưởng ngay từ khởi đầu, thông thường những năm có lũ, đợi lũ rút nông dân mới vệ sinh đồng ruộng và gieo sạ. Năm nay thiếu lũ nông dân tranh thủ bơm nước sông khi chưa mặn để làm, nhưng tới khi mưa gây ngập úng bị thiệt hại.
Cục trồng trọt ghi nhận diện tích lúa bị thiệt hại ở nhiêu nơi lên tới 70%. Ngoài ra tiến độ xuống giống bị chậm nhiều so với lịch thời vụ. Việc xuống giống không đồng loạt sẽ tạo ra dịch bệnh, nông dân phải sử dụng nhiều phân bón, thuốc trừ sâu hơn trong khi vật giá ảnh hưởng lạm phát gia tăng mạnh, giá các loại vật tư nông nghiệp tăng từ 25 tới 30%. Bên cạnh đó tiền công lao động cũng tăng cao, Một nông dân miền tây nam bộ phát biểu:

“Vụ đông xuân rồi 70 ngàn/ngày, vụ hè thu 80 ngàn/ngày. Hiện tại tôi đang thuê mỗi người 100 ngàn/ngày, tăng từ vài tháng nay. Tôi đi ra chợ, mặt hàng nào cũng tăng giá hết.”
Tổng hợp thông tin, chúng tôi ghi nhận, Việt Nam giảm lượng gạo xuất khẩu trong năm 2011 vì nhiều nguyên do. Chưa biết được mức độ ảnh hưởng thời tiết thất thường với vụ lúa đông xuân 2010-2011  thu hoạch trong quí 1 này.
Ngoài ra Việt Nam có thể mất nguồn cung cấp lúa khoảng trên dưới 1 triệu tấn từ Campuchia, sau khi Phnompenh giữ lại lúa gạo để phục vụ xuất khẩu với sự giúp đỡ của Trung Quốc.

Những thảm họa do con người gây ra trong năm 2010

Điểm lại trong năm qua trên thế giới đã có những tai họa đau thương đáng suy ngẫm xảy ra tại một số quốc gia.
Nếu tính đến tình trạng nghiêm trọng kéo dài, trước tiên phải kể đến sự cố tràn dầu ngoài khơi Mexico từ một giếng dầu do Công ty Dầu khí Anh quốc British Petroleum khai thác.
Kế đến là tai nạn máy bay khủng khiếp ở Nga vào ngày 10 tháng Tư, gây tử vong cho cố Tổng Thống Lech Aleksander Kaczynski và phu nhân Maria cùng một số nhân vật cao cấp trong Nội các Ba Lan. Và mới hồi tháng 10 vừa qua là vụ “sóng thần bùn đỏ” của Hungary cuốn đi hàng trăm ngôi nhà và làm ô nhiễm dòng sông Danube thơ mộng của Châu Âu. 
Cùng với các thiên tai, những thảm họa từ con người này cũng gây ra nhiều thiệt hại lớn và làm ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống người dân. Quỳnh Như tổng hợp và tường trình.

Thảm họa dầu tràn

Theo ước tính của Hoa kỳ, có ít nhất 20 triệu gallon dầu thô từ giếng dầu Deepwater Horizon do Công ty British Petroleum (BP) khai thác, đã tràn ra vịnh Mexico và trở thành thảm họa dầu tràn khủng khiếp nhất trong lịch sử Hoa kỳ.
Sự cố tràn dầu này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái ở vùng ven biển của tiểu bang Louisiana, Mississippi, Alabama và Florida, tổng cộng ước chừng 25,000km2 hải phận. Tổng thống Mỹ lập cả một Ủy ban quốc gia để tìm cách giúp công ty BP đối phó. Bộ Trưởng Qúôc phòng Robert Gates họp với Nhà Trắng để thảo luận về cách thức quân đội có thể tham gia trong nỗ lực ngăn cản dầu tràn. Lực lượng hải quân và không quân Mỹ đã được huy động đến vùng Vịnh Mexico với các thiết bị để giải quyết vụ dầu loang.
Trong lần đến thanh sát những nỗ lực nhằm ngăn chặn nạn dầu loang trong vùng bờ Vịnh Mexico tại đảo Grande thuộc tiểu bang Louisiana, hôm 28 tháng 5, Tổng thống Barack Obama đã phát biểu:
“Chúng ta muốn biến cố tràn dầu này sớm được chấm dứt, chúng ta muốn ngăn chặn không để cho dầu tiếp tục loang và dọn sạch những vùng biển bị dầu tràn. Và chúng ta cũng muốn làm thế nào để nhanh chóng ổn định lại đời sống của người dân tại các địa phương bị ảnh hưởng. Nhiệm vụ của chính quyền các cấp là phải khắc phục hậu quả này để bảo vệ cuộc sống của người dân, bảo vệ cộng đồng dân cư, bảo vệ vùng sinh thái biển, và phục hồi kinh tế ở các khu vực này.”           
Vụ tràn dầu này gây ảnh hưởng đến ngành Du lịch ở khu vực Vịnh Mexico, và đặc biệt tác động nặng nề đến nguồn sinh sống của ngư dân điạ phương. British Petroleum cho biết những nổ lực để giải quyết vụ dầu loang khủng khiếp trong vùng Vịnh Mexico này làm tiêu tốn mỗi ngày hơn 6 triệu đô la. Và cuối cùng sau hơn 100 ngày Công ty Dầu khí Anh Quốc cũng tìm ra được giải pháp để chặn việc dầu loang bằng một thiết bị được thiết kế đặc biệt để đậy lên miệng giếng dầu.
Tiểu bang bị ảnh hưởng nặng nề nhất trong vụ dầu tràn này là Louisiana. Đã có những so sánh về tác hại của vụ tràn dầu này với trận bảo Katrina khủng khiếp hồi năm 2005. Thậm chí vụ tràn dầu này còn gây ảnh hưởng lâu dài đối với môi trường sinh thái. Trong lần nói chuyện với Biên tập viên của Đài Á Châu Tự do đến thăm, ông Benjamin Trương, một ngư dân ở Venice, Louisiana nói:
“Còn hơn bão, bão nó tới nó đi, còn dầu loang này nó tới thì nó có thể ảnh hưởng, dầu chìm xuống lòng biển có thể giết rong rêu, tôm tép, nếu giết cá nhỏ thì cá lớn không sống thì ngành seafood có thể nói là kiệt quệ hoàn toàn.”
Mặc dù BP đã cam kết thực hiện việc đền bù các thiệt hại về môi trường, và mọi tổn thất cho người dân ở vùng duyên hải phiá Nam hướng ra Vịnh Mexico, nhưng trong thực tế cuộc sống của người dân, đặc biệt là các hộ ngư dân vẫn còn rất chật vật. Bà Jennifer Reddick chuyên bán hải sản cư ngụ ở thị trấn Buris nằm dọc theo sông Missisippi. Gia đình bà có 6 người con. Bà Reddick nói:
“Rất nhiều người còn chật vật khó khăn và mong tìm được sự hỗ trợ, như gia đình tôi chẳng hạn. Tôi vẫn cố tìm mọi cách để xoay sở cho những chi tiêu của gia đình, nhưng vẫn không thấm vào đâu. Thậm chí Giáng Sinh năm nay tôi cũng không có gì cho lũ trẻ.”
Không chỉ riêng gia đình bà Jennifer Reddick, nhiều hộ dân sống dọc theo vùng Vịnh Mexico bị ảnh hưởng do vụ tràn dầu vẫn còn thiếu thốn chật vật trong mùa Giáng Sinh năm nay.  

Hội Di sản vùng biển của Louisiana (Coastal Heritage Society of Louisiana) cho biết tổ chức này nhận số đơn xin trợ giúp tăng gấp đôi so với trước, trong đó có những người trước đây chưa từng yêu cầu giúp đỡ. Kể cả sau trận bão Katrina, số người xin cứu trợ cũng chưa nhiều bằng sau vụ dầu loang. Bà Vickie Perrin, một trong những thành viên sáng lập tổ chức này cho biết:
“Giả sử như nếu bạn sống ở đây cả đời thì bạn sẽ biết từng người, từng gia đình. Và bạn sẽ thấy việc đền bù đối với họ cũng chưa được thoả đáng.”
Cũng theo bà Perrin, vẫn còn nhiều người chưa nhận được số tiền bồi thường trong tổng số 20 tỉ đô là mà BP hưá trả cho các nạn nhân của vụ dầu tràn, một số khác đã nhận được tiền bồi thường nhưng số tiền đó chỉ bằng một phần so với những tổn thất đối với họ.

Giáng Sinh vừa rồi tổ chức của bà Perrin đã tổ chức tiệc Giáng Sinh và tặng quà cho khoảng 112 gia đình có hoàn cảnh khó khăn.   

Chuyến bay định mệnh

Chiếc Tupolev TU-154 do Liên Xô sản xuất, cất cánh từ thủ đô Warsaw, chở Tổng thống Ba Lan Lech Aleksander Kaczynski cùng phu nhân và các quan chức cao cấp của Ba Lan gặp nạn hôm mùng 10/04, khi sắp đáp xuống sân bay Smolensk, cách Matx-cơ-va khoảng 400km về phiá Tây. Ông Sergei Markin, người đứng đầu cơ quan điều tra Nga cho hay, toàn bộ 96 người trên chiếc máy bay này đều đã thiệt mạng, trong đó 88 người thuộc phái đoàn của Ba Lan. Chuyến bay chở đoàn đại biểu cấp cao Ba Lan sang thăm Nga theo lời mời của Thủ tướng Vladimir Putin để dự lễ tưởng niệm 70 năm vụ thảm sát Katyn. 
polish-president-funeral-250.jpg
Quan tài của cố Tổng Thống Ba Lan và vợ được đưa tới Thánh đường St. John tại Warsaw hôm 17/04/2010. AFP Photo/Wojtek Radwanski
Trước khi máy bay gặp nạn, Tổng thống Ba Lan và đoàn tuỳ tùng dự định đến thăm thành phố Smolensk để tưởng niệm khoảng 22,000 chiến binh Ba Lan bị giết hại tại rừng Katyn, ở Nga, trong cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Gia đình một số nạn nhân trong vụ thảm sát này cũng có mặt trên chuyến bay định mệnh.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Ba Lan Piotr Pszkowski cho biết, ngoài Tổng Thống và phu nhân, trên máy bay còn có Tổng Tư lệnh Quân đội Franciszek Gagor, Thứ trưởng Ngoại giao Andrzej Kremer, Thống đốc Ngân hàng Trung ương Slawomir Skrzypek, và nhiều quan chức cao cấp khác của Ba Lan.
Vài giờ sau khi xảy ra thảm kịch, Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk đã triệu tập một cuộc họp nội các bất thường và sau đó ra thông báo sẽ tổ chức một cuộc bầu cử sớm. Theo Hiến pháp của nước này, Chủ tịch Quốc hội Bronislaw Komorowski sẽ tạm thời đảm trách các nhiệm vụ của Tổng Thống.
Nhân dân Ba Lan đau buồn trước hung tin này. Cả đất nước Ba Lan chìm trong không khí tang thương trong đợt quốc tang kéo dài một tuần lễ. Ngay sau khi vụ tai nạn xảy ra, thông tín viên Tôn Vân Anh của Đài RFA tại Ba Lan cho biết:  
“Đây chắc chắn là một tin dữ chưa từng có trong lịch sử cận đại Ba Lan và thật sự dư luận Ba Lan đang bàng hoàng bởi phần lớn mọi người dân khá khăng khít với chính giới, vẫn gắn liền vị trí của các chính khách với những giá trị truyền thống, người Ba Lan coi chính giới là tầng lớp ưu tú bởi lịch sử của họ từ hàng thế kỉ nay là như vậy.
Cựu tổng thống của Ba Lan đã nói khi biết tin rằng Ba Lan vừa mất đi những người không gì thay thế còn thủ tướng Ba Lan cũng đã khóc khi nghe tin. Các hàng giáo phẩm thuộc các tôn giáo khác nhau cũng đã lên tiếng chia buồn sâu sắc và không thể nói không khí tang lễ không xuất hiện trên đường phố. Người dân thì đang chuẩn bị tới dự các buổi cầu nguyện do nhà thờ tổ chức.”   
Lãnh đạo các nước trên thế giới cũng gởi lời chia buồn đến nhân dân Ba Lan về tổn thất lớn lao này.    
Ngay chiều hôm 10/4, Tổng thống Nga Dmitry Metvedev ra chỉ thị thành lập Uỷ Ban Chính phủ phụ trách điều tra nguyên nhân vụ tai nạn máy bay do Thủ tướng Vladimir Putin phụ trách. Phiá Ba Lan cũng lập Ủy Ban Điều tra riêng.  
Một nguồn tin thân cận với Uỷ ban điều tra tiết lộ cho hãng tin Interfax rằng lý do thời tiết xấu, lỗi ở con người, và sự cố kỹ thuật đều có thể là nguyên nhân của vụ tai nạn rớt máy bay này. Tuy nhiên, trách nhiệm đã được kết luận là do lỗi ở con người – lỗi của phi công trưởng trong quá trình điều khiển máy bay.      

Sự cố bùn đỏ Hungary

Một tai nạn khác cũng bởi con người gây ra do sự thai thác tài nguyên dẫn đến thảm hoạ môi trường, đó là vụ tràn bùn đỏ ở Hungary. Khoảng 1,1 triệu m3 bùn đỏ từ bể chưá chất thải của một nhà máy sản xuất nhôm, cách thủ đô Budapest 160km về phiá Tây Nam đã tràn ra trên một khu vực rộng khoảng 40km2, gần nhất là làng Klontar, vài thị trấn lân cận, và một số dòng sông. Nghiêm trọng nhất là bùn đỏ chảy vào sông Danube và sông Raab có thể gây ô nhiễm các con sông này.
Cơn “sóng thần bùn đỏ” đã cuốn trôi khoảng 270 căn nhà, phá huỷ các phương tiện xe cộ, đường xá, cầu cống, làm một số người chết, bị mất tích, và trên 120 nạn nhân được đưa vào bệnh viện điều trị vì những vết bỏng do hoá chất trong bùn đỏ thấm vào da.


Tổ chức Hoà Bình Xanh (Green Peace) cho hay có ít nhất khoảng 700,000 m3 chất thải độc hại đã tràn ra ngoài, không kém gì tổng số lượng dầu thô chảy ra Vịnh Mexico trong sự cố tràn dầu ở Mỹ trong năm nay. Những cuộc thử nghiệm của các chuyên gia môi trường ngay tại hiện trường cho thấy bùn đỏ thải ra từ nhà máy bô-xít chưá 2 độc tố là thạch tín và thuỷ ngân.            
Chính phủ Hungary xem đây là thảm họa hoá chất thảm khốc nhất trong lịch sử quốc gia. Thủ tướng Viktor Orban nói rằng, vấn nạn này có nhiều khả năng do lỗi của con người gây ra, vì xảy ra trong lúc thời tiết bình thường. Hai tuần trước khi tai nạn xảy ra, một phái đoàn thanh tra của chính phủ đã đi kiểm tra hồ chứa bùn và không thấy có dấu hiệu gì khác thường. Chính phủ Hungary đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp trong vùng nơi xảy ra thảm hoạ.
Ông Tibor Dobson, phát ngôn viên của Cơ quan Quản lý Thảm hoạ của Hungary nhận định rằng, sự cố tràn bùn đỏ này có nguy cơ trở thành một thảm hoạ sinh thái và có thể sẽ ảnh hưởng đến 6 nứơc hạ lưu là Croatia, Serbia, Bulgaria, Rumania, Moldova, và Ukraina.
Trong một cuộc phỏng vấn với Đài Á Châu Tự Do, nhà báo Hoàng Linh hiện sống tại Hungary cho biết về thảm trạng này như sau:
“Ở đó thì người ta bảo là cũng chưa biết làm hồi sinh bằng cách nào, vì trong thực tế thì có thể là trong một khoảng thời gian nhất định thì tình trạng sinh thái ở đấy cũng như động vật và thực vật ở trong con sông đó có thể tái hồi phục, nhưng điều này chưa từng xảy ra bao giờ.
Người ta có nói là chưa bao giờ xảy ra một tai nạn theo cái hướng một lượng bùn đỏ khổng lồ như thế mà tràn ra ngoài và lan ra như thế, thành ra đối với những biện pháp hiện tại mà người ta biết đến thì cũng chưa biết phải khắc phục như thế nào, và cần bao nhiêu thời gian để phục hồi những dòng sông như vậy.”
Ở Việt Nam vấn đề khai thác bô-xít Tây Nguyên cũng gặp phải nhiều ý kiến phản đối từ phiá các nhà chuyên môn cũng như dân chúng. Bài học kinh nghiệm tràn bùn đỏ ở Hungary chắc chắn sẽ  là một cảnh báo tốt để Việt Nam có những cân nhắc kỹ lưỡng hơn trong việc khai thác nguồn tài nguyên bô-xít trong điều kiện khoa học công nghệ của đất nứơc hiện nay, để tránh những tác động tiêu cực đến môi trường.

Ông Lưu Hiểu Ba không cô đơn

Một trong trong những sự kiện nổi bật trong năm 2010 là sự kiện giải Nobel Hòa bình được trao cho ông Lưu Hiểu Ba.
Nhà bất đồng chính kiến này cũng là người Trung Quốc đầu tiên được nhận giải thưởng cao quý ấy. Ông không được tận hưởng niềm vui trọn vẹn vì phải thọ án trong chốn lao tù lạnh lẽo. Thế nhưng, ông Lưu Hiểu Ba không hề cô đơn.

Biểu tượng dân chủ

Cái tên Lưu Hiểu Ba đã không còn xa lạ với thế giới. Người đàn ông với gương mặt cương nghị ấy đối với một số người là một tội phạm, nhưng là biểu tượng dân chủ đối với rất nhiều người.
Từ năm 1991, ông đã bị cấm diễn thuyết và viết sách trên quê hương của mình. Vậy mà ông vẫn chưa bao giờ từ bỏ ý định cất lên tiếng nói. Năm 2006, trong một cuộc phỏng vấn với PEN center Trung Quốc, do ông làm chủ tịch. Ông nói:
“Chúng tôi sẽ không sợ sệt áp lực nào ngăn cấm tự do viết lách, bất kể áp lực tự đó từ phía chính phủ hay từ các nguồn khác”.
Nhà văn Lưu Hiểu Ba chính là một trong những sinh viên hòa mình vào hàng trăm ngàn người tham gia cuộc biểu tình ở Thiên An Môn năm 1989. Ông là tác giả đầu tiên của Hiến Chương 08, ra đời năm 2008 kêu gọi dân chủ cho Trung Quốc.

Mặc dù đang phải thọ án tách biệt với thế giới, ông không cô đơn vì ngoài song sắt nhà giam luôn có những tiếng nói khiến trái tim ông ấm lại.
Vợ ông Lưu Hiểu Ba, trong lần phỏng vấn với BBC khi có tin ông được đề cử giải Nobel Hòa Bình 2010 trong lúc đang thọ án, đã nói:

“Bây giờ không ai biết tên anh ấy. Nhưng một ngày kia, ngay cả nếu anh ấy không được coi là anh hùng, thì anh ấy sẽ được coi là một công dân rất tốt, một tấm gương kiểu mẫu”.
Đó là lời nói của một phụ nữ luôn yêu thương, hiểu biết và sát cánh bên chồng.
Trong thời gian ông Lưu Hiểu Ba đang thọ án, giới trí thức không ngừng nói về ông. Trong đó, 23 nhân vật có tiếng trong giới trí thức Trung Quốc đã cho công bố trên Internet một lá thư đòi hỏi chính phủ Bắc Kinh tôn trọng quyền tự do ngôn luận và nới lỏng sự kiểm soát báo chí.
Song Zaimin, một thường dân đã ký tên vào hiến chương 08 và ủng hộ nhà văn Hiểu Ba, đã trả lời trên đài Truyền NTDTV rằng:
“Ông ấy không hề vi phạm luật pháp. Ông ấy chỉ nói lên tiếng nói của mọi người. Ông ấy chỉ đơn thuần nói lên suy nghĩ của mình”.
Khi ông Lưu Hiểu Ba được xướng tên cho giải thưởng cao quý này, phía Bắc Kinh dĩ nhiên đã vô cùng khó chịu và tạo sức ép cho những người ủng hộ ông Hiểu Ba để họ không tham dự lễ trao giải. Tuy nhiên, ở nơi mà người ta không bị Trung Quốc kiểm soát, thì tiếng vỗ tay vẫn vang lên. Khôi nguyên Nobel Hòa Bình 2009, Tổng thống Barack Obama, đã nói rằng “Ông Lưu Hiểu Ba xứng đáng nhận giải này hơn tôi rất nhiều”.
Buổi lễ trao giải Nobel Hòa Bình ở Oslo hồi tháng 12 có 46 nước tham dự, 19 nước không gởi đại diện của mình đến và nhân vật quan trọng Lưu Hiểu Ba đã vắng mặt. Người ta đã đặt giải thưởng vinh dự trên chiếc ghế trống đó. Chiếc ghế này “vắng” mà không “trống” vì gia đình, đồng nghiệp, những nhiều ký vào Hiến chương 08 và những ai ủng hộ ông đều hướng về đó.
Với các phong trào sinh viên, ông là một sinh viên ưu tú. Đối với học sinh, ông là một thầy giáo đáng kính. Đối với cộng đồng, ông là một trí thức yêu nước. Và đối vơi gia đình, ông là một người chồng gương mẫu. Lưu Hiểu Ba không cô đơn vì ông luôn có một trái tim ấm áp, hiểu biết và bình yên.
Trong phiên tòa ngày 23/12/2009, ông dành 1 phần 3 những giây phút hiếm hoi để dành những tình cảm chân thành cho người vợ của mình: “Tình yêu em là ánh sáng đã giúp anh vượt qua những bức tường và thanh sắt, vẫn dịu dàng trên từng li tấc da thịt anh, sưởi ấm từng tế bào cơ thể anh, giúp anh giữ lòng mình được thanh thản, cao thượng và trong sáng, vì vậy mỗi phút giây trong nhà tù vẫn tràn đầy ý nghĩa”.

“Tôi không có kẻ thù”
Suốt 21 năm qua, ông bị theo dõi, bị quấy nhiễu, bị cấm diễn thuyết tại quê hương, bị quản chế và tù tội. Người đàn ông gầy gò ấy vẫn nói rằng “Tôi không có kẻ thù”. Người ta thấy tâm hồn ông bình yên đến lạ. Nơi của bình yên không phải là nơi sóng gió không tồn tại mà là nơi con người yêu thương nhau. Và ông bình yên vì tâm hồn ông được che chở bởi triết lý nhân sinh.

Trong bài phát biểu của phiên tòa này, ông cũng nói “Thù hận chỉ làm hoen rỉ sự khôn ngoan và ý thức của ta, phá hỏng lòng khoan hòa và tình người của một xã hội”.
Những nhân viên an ninh, chánh án, công tố viên đều không phải là kẻ thù của người đàn ông ấy vì ông hiểu biết và sống thức tỉnh trong từng giây từng phút. Thức tỉnh để tiếp xúc, để nhận diện và để nhìn thấy những gì đang xảy ra trong ta và chung quanh.
Trái tim vô ưu của ông Lưu Hiểu Ba làm người ta nhớ tới lời Bụt dạy Rahula trong Đường Xưa Mây Trắng của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, rằng: “Con học theo hạnh của đất. Dù người ta đổ và rải lên những thứ tinh sạch và đẹp đẽ như hoa, nước thơm, sữa thơm, hoặc người ta đổ lên đất những thứ dơ dáy hôi hám thì đất cũng tiếp nhận tất cả những thứ ấy một cách thản nhiên, không vui vẻ mừng rỡ mà cũng không chán ghét tủi nhục”. Không quá đáng khi nói rằng ông Lưu Hiểu Ba không hề cô đơn vì tâm hồn ông đã ở cùng trời đất.
“Cái cây tìm sự cô đơn trên cao, ngọn cỏ tìm sự đông đảo cưới đất”.
Ngày 28 tháng 12 là ngày sinh nhật của ông Lưu Hiểu Ba. Vậy là chỉ 3 ngày trước thềm năm mới, ông ấy đã đón sinh nhật thứ 55 của mình trong phòng giam một mình. Không ai biết ông đã làm gì cho ngày sinh nhật của mình trong nơi xa thẳm ấy.
Thế nhưng, có một điều người ta có thể chắc chắc rằng: ông Lưu Hiểu Ba không hề cô đơn trong năm 2010, và cũng sẽ không cô đơn trong 11 năm tới bởi vì tiếng nói của ông là tiếng nói đồng điệu của rất nhiều người, ít ra là của gia đình, của hàng ngàn người đã ký vào Hiến chương 08, của học sinh, của đồng nghiệp và của những người đã vỗ tay khi tên ông được xướng lên trở thành Khôi nguyên Hòa bình 2010.

Monday, January 3, 2011

Mỹ - Trung cạnh tranh quyền lực

Hiện đang có sự nghi kỵ, bất tín đáng kể giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc khi hai cường quốc này ra sức gây ảnh hưởng trên thế giới, nhất là tại khu vực Biển Đông.

Bất tín nhiệm nhau

Lịch sử chứng minh rằng những siêu cường có thể sống chung hoà bình với nhau khi cường quốc đang lên - như Trung Quốc hiện nay - nghĩ là không bị cản trở trong khí thế trỗi dậy của mình trong khi cường quốc tiếp tục vị thế số 1 toàn cầu - như Hoa Kỳ - tin rằng bước đường hùng cứ thế giới của họ không bị đe dọa.
Do đó, vấn đề tăng cường quân sự cần phải đi đôi với việc củng cố sự tín nhiệm hỗ tương. Đó là nhận định của tạp chí The Economist mới đây qua bài tựa đề “Sự Nguy Hiểm Của Một Nước Trung Quốc Trỗi Dậy”.
Nhưng theo giới quan sát thì rắc rối đang xảy ra là 2 siêu cường Mỹ-Trung đang lâm vào tình trạng ngày càng bất tín nhiệm nhau. Khi đề cập tới vị thế của TQ trên bình diện quốc tế, chuyên gia Bonnie Glaser thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế trụ sở tại thủ đô Washington nhận xét rằng sự bất tín nhiệm chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc tiếp tục nghiêm trọng thêm.
Thậm chí cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger cũng bày tỏ quan ngại về nguy cơ giới lãnh đạo Mỹ-Trung trong vòng một thập niên sắp tới đang gieo nền móng thù nghịch đáng ngại, mặc dù trước kia ông Kissinger tin chắc rằng Hoa Kỳ và TQ cùng có lợi qua sự hợp tác, chứ không phải kình chống nhau.
Và tờ The Economist cũng cảnh báo thêm rằng hiện không có nơi nào diễn ra sự kình chống manh nha nhưng gay gắt như giữa quân lực Mỹ và quân đội Giải phóng Nhân dân đang được hiện đại hoá của Bắc Kinh.
Một cách cụ thể hơn, một trong những mối quan ngại của Hoa Kỳ, và nhiều nước khác, là Bắc Kinh xem chừng như ngày càng ráo riết hiện đại hoá quân đội, đặc biệt tăng cường lực lượng hải quân ở Biển Đông và có hành động ngày càng gây hấn, cao ngạo hơn.
Bài tựa đề “TQ Tập Trung vào Sức Mạnh Quân Sự” được tờ Washington Post phổ biến hồi tháng 8 vừa rồi trích dẫn 1 bản phúc trình của Bộ Quốc Phòng Mỹ lưu ý rằng Bắc Kinh hiện đã thay đổi cách suy nghĩ về quân sự: Trước đây họ chú trọng tới chủ quyền Hoa Lục hàm ý rằng binh sĩ TQ chỉ bám theo vùng biên giới, nhưng giờ tư duy của Trung Nam Hải chú trọng tới sách lược nhằm bảo vệ điều mà Bắc Kinh tự cho là quyền lợi TQ – ở khắp hoàn cầu.
Cựu Phó Đô Đốc Mỹ Eric McVadon, chuyên gia cao cấp nghiên cứu vùng Á châu-TBD mới đây lưu ý rằng quy mô và mức độ đe doạ nghiêm trọng của Quân đội Nhân dân TQ hiện đã quá rõ rệt. Về vấn đề này, GS Nguyễn Mạnh Hùng, dạy môn Bang giao Quốc tế thuộc Đại học George Mason, tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ nhận xét:
"Về mặt an ninh quốc phòng, thì không những Mỹ mà nhiều nước khác cũng quan tâm đến chương trình hiện đại hoá quân đội của TQ. Hoa Kỳ muốn Trung quốc phải minh bạch hơn trong vấn đề này. Hoa Kỳ đặt nghi vấn là TQ có bị ai đe doạ đâu mà phải cần tới quân đội lớn mạnh như vậy.
Vì thế, một mặt Mỹ cần có sự hợp tác của TQ để giải quyết một số vấn đề lớn trên thế giới. Nhưng ngược lại TQ là nước có thể thách thức vị thế lãnh đạo của Hoa Kỳ."

Biển Đông - vấn đề nóng

Trong bối cảnh như vậy, hiện giới ngoại giao, các nhà hoạch định chính sách cùng học giả ngày càng giảm bớt sự tin tưởng rằng Hoa Lục có thể là một siêu cường hòa bình trong tương lai.
Gần đây, nhiều hành động gây hấn ngày càng đáng ngại của Bắc Kinh khiến người ta lại càng giảm đi sự tin tưởng như vậy, từ vụ tàu TQ đâm tàu tuần duyên Nhật Bản ở khu vực quần đảo mà Tokyo gọi là Senkaku, TQ gọi Điếu Ngư, qua đó phía Bắc Kinh đòi Tokyo xin lỗi, cho tới chuyện Hoa Lục bày tỏ thái độ bao che Bắc Hàn sau khi có bằng chứng rằng Bình Nhưỡng là thủ phạm bắn chìm chiến hạm Cheonan của Nam Hàn khiến 46 thuỷ thủ tử vong, và bao che cả chuyện Miền Bắc CS pháo kích Miền Nam.
Đó là chưa kể tàu TQ nhiều lần sách nhiễu táo bạo tàu hải quân Mỹ, kể cả Khu trục hạm USS John S. McCain và tàu thăm dò đại dương USNS Impeccable.


Nhưng có lẽ hành động đáng ngại hàng đầu từ Hoa Lục là Bắc Kinh tự khẳng định có chủ quyền gần trọn Biển Đông, cho đây là “quyền lợi cốt lõi” của họ khiến Hoa Kỳ, qua Ngoại trưởng Hillary Clinton, tuyên bố khu vực Biển Đông cũng là quyền lợi quốc gia của Hoa Kỳ, như GS Nguyễn Mạnh Hùng nhận xét:
"Vấn đề Biển Đông thì Hoa Kỳ và TQ có lập trường khác biệt, nếu không muốn nói là đối chọi với nhau. Trong khi Bắc Kinh coi toàn vùng này là lợi ích cốt lõi của họ, thì Hoa Kỳ cũng xác nhận rằng đó là vùng thuộc lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ. Còn Tư lệnh lực lượng Mỹ tại Thái Bình Dương thì nói rằng đây là quyền lợi sống còn của Mỹ."
TQ xem Hoa Kỳ như một siêu cường đang xuống dốc và đang ra sức ngăn chận sự trỗi dậy của Bắc Kinh, trong khi Mỹ lo ngại về tinh thần dân tộc quá khích ở TQ, nhất là sau khi Hoa Lục đạt được thế mạnh đáng kể về kinh tế, quân sự.
Theo các quan sát viên thì 1 nước Mỹ suy yếu sẽ dẫn tới tình trạng bất ổn định dài lâu ở vùng Đông Á, và đồng thời đe doạ tới hoạt động thương mại ôn hoà tốt đẹp lâu nay mà cả sự hưng thịnh cùng nhiều quyền lợi khác của Mỹ cũng trông cậy vào. Do đó, Hoa Kỳ cần duy trì thế mạnh để bảo đảm thuỷ lộ sầm uất và chiến lược ở Biển Đông.
Câu hỏi được nêu lên là sự mâu thuẫn xem chừng như ngày càng sâu sắc giữa “quyền lợi cốt lõi" của TQ và “quyền lợi quốc gia” của Hoa Kỳ tại Biển Đông có thể ảnh hưởng ra sao tới khu vực này, GS Nguyễn Mạnh Hùng nhận xét:
"Sự mâu thuẫn Mỹ-Trung như vậy có ảnh hưởng đến khu vực Biển Đông. Ảnh hưởng đầu tiên thể hiện qua cuộc đối thoại Shangri-La ở Singapore hồi tháng Sáu năm vừa qua khi có lời qua tiếng lại giữa Tổng trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates và Trưởng phái đoàn quân sự TQ, tướng Mã Hiểu Thiên.
Vụ này làm nóng lại tình hình khu vực .

Ảnh hưởng thứ 2 là sự xuất hiện và can dự tích cực của Hoa Kỳ vào vùng này khiến những quốc gia nhỏ ở Á Châu, nhất là ở Đông Nam Á, đã dám đề ra những chính sách bảo vệ quyền lợi của mình mạnh dạn hơn đối với TQ.
Ảnh hưởng thứ 3 là TQ tạm thời có thái độ đấu dịu – chỉ tạm thời thôi. Ảnh hưởng thứ tư là có sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa Hoa Kỳ và các quốc gia khác ở Đông Nam Á và cả toàn vùng Á Châu, nhất là những nước mà trước kia thích đi nước đôi như Ấn Độ, Nhật Bản, chẳng hạn."
Nếu xét bao quát hơn, tức vượt khỏi vùng Biển Đông để tới Đông Bắc Á và rồi thế giới, thì Hoa Kỳ và Trung Quốc ra sức gây ảnh hưởng ra sao, Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng cho biết:
"Bây giờ trên thế giới, Hoa Kỳ muốn TQ cộng tác để giải quyết một số hồ sơ lớn. Sự cộng tác của TQ vẫn chưa đủ để giải quyết 2 vấn đề quan tâm nhất của Mỹ, đó là vấn đề chương trình nguyên tử của Iran và Bắc Hàn, nhất là trước nguy cơ loại khí giới này bị lọt vào tay quân khủng bố.
Ngoài vấn đề ấy, Hoa Kỳ và TQ là những quốc gia đang rất cần nhiên liệu, nên TQ hiện đang cạnh tranh với Mỹ để tìm kiếm, khai thác, thu mua nhiên liệu vốn ngày càng hiếm trên thế giới - ở cả Á Châu, Phi Châu và Châu Mỹ La Tinh.
Trong tình trạng đó thì Hoa Kỳ phải tìm cách có liên hệ tốt trở lại với những nước mà Mỹ không ưa, hay có thể nói là thù nghịch với Mỹ, như Venezuela, Cuba, Miến Điện, Iran rồi Bắc Hàn nữa."

An ninh quốc phòng

Giữa lúc Hoa Kỳ bán võ khí cho Đài Loan, củng cố liên minh Mỹ-Nhật, xúc tiến thao dợt quân sự với Nam Hàn, tuyên bố Biển Đông là “quyền lợi quốc gia” của Mỹ…, thì hẳn Bắc Kinh lại càng nghi kỵ Washington về mặt an ninh cho dù hai nước ra sức gia tăng về mặt kinh tế, tài chính.
Cũng chính vì lý do an ninh mà Hoa Kỳ có thể ra sức ngăn chận TQ trước khi Bắc Kinh thật sự trở thành siêu cường mang dòng máu bành trướng Hán Tộc.


Theo các chuyên gia thì Hoa Kỳ và Trung Quốc hiện vẫn còn những tương đồng, cùng hưởng lợi từ công cuộc toàn cầu hoá, từ thị trường tự do nơi hai cường quốc này mua nguyên liệu và xuất cảng thành phẩm. Cả hai đều cần một thế giới ổn định để ngăn chận hiểm hoạ hạt nhân.
Nhưng nói theo tờ The Economist, người ta sợ rằng tình trạng tranh chấp, xung khắc, bất tín nhiệm Mỹ-Trung, nếu dài lâu tới mức trầm trọng, có thể lâm vào tình trạng hữu nghị như Anh và Đức Quốc trước khi Thế Chiến Thứ Nhất xảy ra.
Bài tựa đề “Sự Trỗi Dậy Của Trung Quốc và Con Đường Dẫn Tới Chiến Tranh” được tờ Asia Wall Street Journal đăng tải hồi tháng 8 vừa rồi có cảnh báo rằng sự đi lên của TQ có thể gây ra tình trạng cạnh tranh an ninh căng thẳng với Hoa Kỳ, dẫn tới nguy cơ rất lớn là chiến tranh giữa 2 cường quốc kinh tế nhất nhì thế giới này.
Nhưng GS Nguyễn Mạnh Hùng khẳng định rằng chiến cuộc Mỹ-Trung, ít ra cũng trong giai đoạn này, sẽ không xảy ra, vì "TQ biết mình không phải là đối thủ của Hoa Kỳ".
Trước tình trạng giằng co như vậy của hai siêu cường Mỹ-Trung, những quốc gia nằm trong vùng tranh giành ảnh hưởng như Việt Nam hẳn cần cảnh giác và khôn khéo để không bị rơi vào thế lệ thuộc bất lợi cho đất nước.

Tin Mới :Sinh Viên Học Sinh Huế Biểu Tình Khai Trương Mùa Hội Lớn 2011 Của Dân Tộc Việt Nam:

Sinh Viên Học Sinh Huế
Khai Trương Mùa Hội Lớn 2011 Của Dân Tộc Việt Nam:

300-350 thanh niên biểu tình ở Huế sáng sớm Chúa Nhật 02-01-2011

Theo nguồn tin đáng tin cậy của nhóm phóng viên dân chủ quốc nội FNA đánh đi từ Huế lúc 14 giờ 00 chiều hôm nay theo giờ địa phương thì :

Sáng nay Chúa nhật 02 tháng 01 năm 2011 ngay từ lúc 5 giờ 00 sáng tinh mơ, đã có gần 40 thanh niên tụ tập như tập thể dục trước Nhà Văn Hóa Thành phố trên đường Hùng Vương cách cầu Trường Tiền khoảng 500 mét, họ đưa cao các biểu ngữ CHỐNG GIẶC TÀU, DÂN LÀ CHỦ, VIỆT NAM ĐA NGUYÊN ĐA ĐẢNG… và hát lớn những khúc hành ca ca như "Nối Vòng Tay Lớn", "Dậy Mà Đi!"

Dân chúng tụ tập lại mỗi lúc lúc càng đông lên: khoảng từ 300 đến 350 người gồm Giảng viên các trường Đại Học cùng Học Sinh, Sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng tại Huế cùng khá đông đảo Dân chúng địa phương, để biểu tình CHỐNG GIẶC TÀU và ĐÒI GIẢI THỂ Đảng Cộng Sản, THIẾT LẬP CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN ĐA ĐẢNG. Họ đã kéo nhau đi bộ đến trước Trụ sở UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế bên bờ Nam sông Hương, ngay gần cầu Phú Xuân và trước Kỳ đài Phú Văn Lâu trước Kinh Thành Huế. CA đàn áp, giải tán đám đông. Đám đông chia tay nhau khoảng lúc 6 giờ sáng, hẹn gặp lại nhau một ngày rất gần. Tin ban đầu đã có 3 thanh niên bị công an Việt cộng bắt và đã được thả ngay sau đó.



Các sinh viên học sinh cho biết họ mới chỉ làm như tập dượt lần đầu đùa vui thôi. Nhưng có lãnh đạo sở CA đã thồi phồng lên thành 3 ngàn đến 3,5 ngàn Dân biểu tình và chỉ thị cho nhân viên điều tra những ai cầm đầu...



Vì cuộc biểu tình kiểu bỏ túi này xảy ra quá sớm, nên rất ít người dân Huế biết đến để cùng tham gia vào cuộc Biểu tình bỏ túi dạng diễn tập này.

Đây là một hoạt động khởi đầu của các phong trào đấu tranh dân chủ quốc nội của đầu năm nay, báo hiệu một năm mới 2011 đầy vận hội cho toàn dân tộc Việt nam hầu sớm giải thể chế độ độc tài đảng trị CSVN, xây dựng một nền dân chủ đa nguyên để mang hạnh phúc ấm no cho toàn dân tộc.

Hoạt động nghiên cứu Khoa học của Giảng viên Đại học Việt Nam (Phần 2)

Trong phần trước Vũ Hoàng đã trình bày về thực trạng công việc nghiên cứu khoa học của các giảng viên đại học ở Việt Nam. Trong phần 2, Vũ Hoàng trình bày tiếp cùng quí vị những góc nhìn khác về thực trạng này và những giải pháp khả thi trong vấn đề quản lý nghiên cứu khoa học tại Việt Nam.

Nghiên cứu khoa học và tham nhũng khoa học

Các số liệu về hoạt động nghiên cứu khoa học trong các trường Đại học cho thấy hiện nay chỉ có 28,4% các giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học. Nếu chỉ nhìn vào con số thì rõ ràng nó phản ánh tỷ lệ giáo viên tham gia nghiên cứu khoa học còn quá thấp. Theo con số báo cáo tại hội thảo “Giải pháp tạo động lực cho giảng viên đại học tham gia nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ” thì trong số 34 trường đại học, từ năm 2006 – 2009, các trường chỉ thực hiện được có 248 đề tài cấp nhà nước, 1.832 đề tài cấp Bộ và 5.505 đề tài cấp trường. Trong đó, khối kỹ thuật công nghệ có số lượng cấp đề tài cấp Nhà nước nhiều nhất, còn khối nông-lâm-ngư-y có kinh phí nghiên cứu từ nhà nước ít nhất.
Với những số liệu thống kê vừa kể, trong từng đó những người tham gia làm khoa học và trong từng đó những đề tài nghiên cứu, sẽ có tỷ lệ bao nhiêu phần trăm công trình khoa học được đem ra ứng dụng thực tế và bao nhiêu phần trăm lại tiếp tục nằm “đắp chiếu” vì thiếu tính khả thi? Một thí dụ cụ thể là các công trình nghiên cứu của khối các trường kinh tế, quản trị kinh doanh vẫn tập trung nhiều vào vấn đề lý luận, chính sách vĩ mô, những vấn đề được đánh giá là dễ làm, dễ nghiên cứu. Theo nhận xét của giáo sư Phùng Xuân Nhạ, hiệu trưởng trường đại học Kinh tế (đại học QG Hà Nội) thì nghiên cứu khoa học của nhóm các trường kinh tế, quản trị kinh doanh vẫn nằm ngoài cơ chế thị trường. Các công trình nghiên cứu xong tốn kém hàng tỷ đồng nhưng chỉ để vào ngăn kéo tủ, các trường vẫn chưa chịu tìm đầu ra cho mình.
Theo T.S Lê Thị Tuyết Hạnh (thuộc Học viện quản lý Giáo dục) thì cần phải nhìn vào chất lượng của các công trình nghiên cứu khoa học chứ không chỉ đơn thuần dựa vào con số 28,4% để đánh giá hiện trạng nghiên cứu khoa học của các giáo viên đại học:
Có một vấn đề cần phải suy nghĩ, đó là làm thế nào để có những đề tài khoa học đích thực chứ không phải là có ítđề tài, mà trong đó bao nhiêu phần trăm góp phần cho quốc kế dân sinh.
Như vậy, vấn đề cốt lõi không phải chỉ là số lượng đề tài hay bao nhiêu tiền cho mỗi đề tài, mà chính là làm thế nào để sử dụng hiệu quả những đồng tiền nghiên cứu đó và làm thế nào để biến những công trình nghiên cứu đó thành những công trình thực tế và được ứng dụng thực tế, đem lại lợi ích cho xã hội.
Nhà nước mỗi năm chi hàng trăm tỉ đồng cho công tác nghiên cứu khoa học, nhưng xét về tính hiệu quả thì rất thấp. Hội đồng nghiệm thu qua loa, chiếu lệ vì tiền đề tài đã phân bổ rồi, không nghiệm thu không được. Trong một bài báo mới đăng tải gần đây trên báo Lao Động, tác giả Lê Thanh Phong gọi đó là “tham nhũng khoa học” vì cách làm khoa học giả dối để lấy tiền nhà nước.

Phương cách “quy đổi giờ giảng” hay “nâng lương”

Quay sang vấn đề quản lý, phân bổ đề tài nghiên cứu khoa học, T.S Hạnh đề xuất cần chấm dứt tình trạng phân bổ đề tài, kinh phí nghiên cứu khoa học bình quân, cũng không nên để tồn tại các hội đồng khoa học gồm các nhà khoa học không cùng chuyên ngành.
Nếu ở các trường đại học nước ngoài, để có thể đứng lớp thành công, mỗi năm người giáo viên phải có ít nhất một bài nghiên cứu khoa học đăng tải trên tạp chí chuyên ngành, hoặc có các đóng góp cập nhật cho bài giảng. Ngoài ra họ còn phải tham gia vào các khoá tập huấn nâng cao chất lượng giảng dạy, chứ không chỉ “dạy chay” hay lấy bài giảng của năm trước “xào xáo” và sử dụng cho năm nay như nhiều giáo viên Việt Nam vẫn làm. Theo quy định về chế độ làm việc tại đại học ở Việt Nam, mỗi năm giáo viên đại học phải dành 500 giờ cho nghiên cứu khoa học. Đây là hoạt động bắt buộc đối với giảng viên, nhưng xem ra con số này đối với họ là quá xa vời và không thể thực hiện đươc. Tuy thế, Bộ Giáo dục đào tạo, mà cụ thể là Vụ Pháp chế, vụ Khoa học Công nghệ hay vụ Kế hoạch tài chính lại chưa có một chế tài cụ thể nào đối với những người không có nghiên cứu. Nhiều giảng viên đại học hiện nay không có công trình nghiên cứu nào trong một thời gian dài nhưng vẫn được giảng dạy.
Ở một khía cạnh khác, ông Lê Minh Tiến cho rằng các trường đại học cần cho phép giảng viên được quy đổi giờ nghiên cứu khoa học thành giờ giảng. Với việc quy đổi này sẽ cho phép giảng viên có thể chuyên tâm nhiều đến công việc nghiên cứu hơn là chịu sức ép của yêu cầu về thời lượng đứng trên giảng đường. Cách quy đổi giờ nghiên cứu sang giờ giảng dạy cũng được xem là một sự động viên cho giáo viên, đó không phải là một phần thưởng quá cao siêu mà chỉ là một chế độ rất bình thường và hợp lý.
Ngoài ra, T.S Hạnh gợi ý rằng Việt Nam có thể linh hoạt áp dụng chế độ nâng bậc lương hoặc chế độ tăng lương trước thời hạn đối với những người có đóng góp nhiều trong hoạt động nghiên cứu, T.S cho biết thêm:
Tôi nghĩ cái đó giống như một phần thưởng về cả mặt vật chất lẫn tinh thần, vì thông thường, như chế độ hiện nay thì công chức 3 năm, nếu không có sai sót, sơ suất sẽ được tăng lương một bậc lương hoặc tăng lương trước thời hạn nếu là chiến sĩ thi đua 2 năm liền.
Ví dụ, trường hợp có đề tài nghiên cứu khoa học hoặc có mấy bài báo đăng tạp chí chuyên ngành, tôi nghĩ có thể như thế, tăng lương trước thời hạn sẽ làm các giảng viên trẻ cảm thấy hăng hái hơn. Trước hết, là họ có tinh thần, để người ta hướng đến thái độ, nghiêm túc hơn, muốn làm hơn thì nó sẽ gắn với những quyền lợi thiết thực 
Có thể phương cách “quy đổi giờ giảng” hay “nâng lương” chỉ là những giải pháp nhỏ, nhưng dễ dàng nằm trong tầm tay để thực hiện. Hi vọng rằng những biện pháp khuyến khích cả về mặt tinh thần lẫn vật chất này, có thể mang thêm nhiều động lực hơn cho các giảng viên đại học làm nghiên cứu khoa học. Cũng hi vọng rằng những động động lực đó sẽ phần nào xoá bỏ được tình trạng “chạy sô” giảng dạy, chảy máu chất xám và người làm khoa học có thể tập trung thời gian nhiều hơn cho công tác nghiên cứu khoa học với những kết quả chất lượng hơn, phục vụ tốt hơn cho nhu cầu giáo dục của Việt Nam.

Thư ngỏ kính gửi Đức cha Bùi Văn Đọc, chủ tịch Ủy Ban Giáo lý Đức tin HĐGMVN


Kính xin Đức cha làm sáng tỏ vấn đề này cũng nhanh chóng như phản ứng của Đức cha về bộ chú giải Kinh Thánh được bán tại nhà sách Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp để giáo dân chúng con được yên tâm.
Kính thưa Đức cha,
Con có đọc được trên trang Nữ Vương Công Lý lá thư của Đức cha cảnh báo Linh mục Nguyễn Trung Thành về việc “một số sách của các tác gỉa Tin Lành dịch ra tiếng Việt có nội dung nguy hại cho đức tin công giáo được bán công khai tại Nhà sách dòng Chúa Cứu Thế và  một vài Nhà sách công giáo khác của tổng giáo phận Tp.Hồ Chí Minh”.
Con cũng đọc được lời giãi bày của linh mục Giám tỉnh Dòng CCT và được biết nhà sách Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp  đã bán bộ sách chú giải Kinh Thánh của William Barcley do Nhà sách Đức Bà mà LM Huỳnh Công Minh làm giám đốc và Dòng Phaolô là “đơn vị trực tiếp tổ chức sửa bài, đọc bản thảo, làm thủ tục cấp phép, in ấn, lưu trữ và phát hành”. Sự việc như vậy là rõ ràng con không muốn đề cập gì thêm mà chỉ muốn nhân cơ hội này trình bày với Đức cha một vấn đề khác mà con nghĩ cũng có ảnh hưởng đến đức tin của người Công giáo.
Số là trước đây con có đọc bản tin “Về Bên Mẹ Vang” số 121 tháng 7/2007 do ông Bùi Văn Giải ở Portland, Origan, Hoa Kỳ  chủ trương. Trong bản tin này ông BVG có đề cập đến chuyện một bạn trẻ bày tỏ với ông rằng “cháu không muốn rước lễ. Rước lễ thiêng liêng được rồi”. Ông ngạc nhiên hỏi lại thì người bạn trẻ này nói “Cháu đọc được trong tủ sách gia đình của bố cháu, quyển Đất Việt, Người Việt, Đạo Việt của ông Phan Thiết có ghi một đoạn của LM Phan Khắc Từ ở Sài gòn đăng trên “CG và DT” nói rằng ‘Trước khi Đức Giêsu lập phép Thánh Thể, phần hồn không có của ăn và đói meo cả sao?’. Theo như LM Từ nhận định thì cháu chẳng cần rước lễ!”.
Ông BVG kể tiếp rằng bài viết đó ông cũng đã đọc trên tờ CG & DT số tháng 7/1976 và cũng đã đọc trong cuốn sách của ông Phan Thiết phát hành ở Hoa Kỳ năm 1995. Ông BVG kể thêm rằng ông cảm thấy đau buồn cho nên “Sau khi nghe anh bạn trẻ nêu ý kiến, tôi về nhà viết thư cho ĐHY Mẫn đương lãnh đạo TGP Saigon và đồng kính gửi ĐC Hoà, CT.HĐGMVN, để xin các ngài ‘khuyên’ cha Từ viết lại lời xin lỗi công khai trên báo CG & DT nhưng chẳng thấy vị nào hồi âm cho ý kiến!”
Vấn đề này con thiết nghĩ có hại chẳng thua kém gì những điều sai trái trong bộ chú giải Kinh Thánh mà Đức cha đã cảnh báo Linh mục Giám tỉnh DCCT. Nhưng  tiếc rằng nó đã không đến tay Đức Hồng Y Bộ Trưởng Thánh bộ Truyền Giáo nhanh như “Thư tố cáo gởi sang Tòa Thánh về việc bộ sách chú giải Kinh Thánh” và cũng không được giải quyết nhanh chóng và kịp thời như phản ứng của Đức cha như trường hợp trên.
Việc này có thể Đức cha không hay biết gì và tuy đã lâu rồi nhưng vấn đề vẫn còn đó. Vấn đề là lời lẽ của LM Phan Khắc Từ liệu có phá hoại đời sống đức tin của người Công giáo? Lời lẽ của LM Từ liệu có khiến cho giáo dân xem thường  việc rước Mình Thánh Chúa là của ăn nuôi dưỡng linh hồn tối cần thiết cho người giáo dân Công giáo?
Kính xin Đức cha làm sáng tỏ vấn đề này cũng nhanh chóng như phản ứng của Đức cha về bộ chú giải Kinh Thánh được bán tại nhà sách Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp để giáo dân chúng con được yên tâm.
Trân trọng,
Lại Thế Lãng