Nhìn AiCâp Mong ViệtNam

Monday, January 3, 2011

Ngũ kinh tảo địa


Một cuộc hội họp mang danh là Đại Hội Dân Chúa 2010 đã không hề dành ra một phần nào cho việc khiêm tốn xét mình về những điều thiếu sót là việc không đúng với bản chất của một Hội thánh luôn cần thanh tẩy, vẫn hàng năm có hai mùa sám hối là Mùa Chay và Mùa Vọng. Đã vậy, lại còn kiêu hãnh ví von đấy là một lễ Hiện Xuống mới thì quả thực quá loạn ngôn giống như cách ăn nói vô tội vạ của một giáo dân đã xem mấy ngày ở Đại hội như đuợc ở thiên đàng.
(Ông Huỳnh Đảm – Chủ tịch Mặt trận TQVN chúc mừng ĐHDC)
Với một danh sách gồm 300 người, bao gồm 31 giám mục, nhiều linh mục tu sĩ và giáo dân đã tề tựu về Đại chủng viện Thánh Giu se, Sài gòn từ chiều Chúa nhật 21/11 đến hết ngày Thứ Năm 25/11/2010 để cùng rình rang tham dự một sinh hoạt gọi là Đại Hội Dân Chúa 2010. Bằng vào cung cách tổ chức và qua những diễn tiến trong bốn ngày này, người tín hữu Công giáo Việt Nam cả trong nước lẫn hải ngoại cần lấy đây làm một cơ may nhìn lại Giáo hội Quê hương mình sau gần bốn thế kỷ tiếp nhận Tin Mừng Cứu độ; nhìn lại sứ vụ tông đồ giáo dân của mình đã trưởng thành ra sao và cũng từ đó nhìn ra mối tương quan đích thực giữa giáo dân và hàng Giáo phẩm phải như thế nào trong nhiệm vụ cùng mở mang Nước Chúa giữa  lòng đất tổ, giữa anh em đồng bào.
Đây không phải là một ý thức mới mẻ của một số đầu óc muốn phản kháng hay muốn làm đảo lộn vai bậc trong cơ chế của Giáo hội mà là chính Công đồng Vatican II, trong Hiến chế Tín lý về Giáo hội đã dành trọn Chương II để diễn giải về ý niệm Dân Thiên Chúa và Chương IV để nói về vai trò và nhiệm vụ của giáo dân trong Giáo hội. Vì vậy, cho dù có sự phân biệt những thừa tác viên có chức thánh  với các thành phần khác trong Giáo hội thì trong sự bình đẳng căn bản ngay khi chịu phép Rửa và trong một giao ước mới cùng được mời  gọi làm Dân Thiên Chúa, tất cả mọi người vẫn có sự bình đẳng thực sự, bình đẳng về phương diện phẩm giá và hoạt động chung của mọi tín hữu để xây dựng Hội thánh như Thánh Augustinô nói “Giám mục là tên chức vụ, Ki tô hữu là tên ân huệ”.
Theo truyền thống từ giao ước cũ về những đặc ân của một dân riêng, Công đồng Vatican II  xác quyết rằng mọi người khi đã lãnh nhận Bí tích Rửa Tội là đều đuợc thánh hiến để lãnh nhận chức tư tế thánh vì được thừa hưởng di sản của dân tư tế  đã đuợc Thiên Chúa tuyển chọn và Công đồng gọi đó là “chức tư tế cộng đồng” (Sacerdotium commune) khi nói “ Chức tư tế chung của các tín hữu và chức tư tế thừa tác hay phẩm trật, tuy khác nhau không chỉ về cấp bậc  mà còn về yếu tính, song cả hai bổ túc cho nhau. Thực vậy, cả hai đều tham dự vào chức tư tế duy nhất của Chúa Kitô theo cách thức riêng của mình…” (Hiến Chế Tín Lý về Giáo hội). Thành ra, nếu từng cá nhân trong Dân Chúa Việt Nam không  có ý thức sống theo lương tâm trung thực đã được Chúa Thánh Thần soi chiếu cho để phân biệt thị phi, phải trái; phân biệt giữa giáo lý chân chính với  tà thuyết, thì có khác gì đã  bỏ phí ơn đoàn sủng của mình. Và cũng chính vì thế mà người giáo dân không thể không nghĩ đến việc xét tật mình rồi nhận diện chân dung mục tử của mình như là một yêu sách của việc Phúc âm hoá xã hội.
Theo sự đánh giá chính thức từ ban tổ chức thì là đại hội thành công tốt đẹp. Song phải chăng  sự đánh giá này vẫn chỉ là cái lối chủ quan xưa nay đã thành sạn trong  đầu óc của các “đấng làm thầy” và còn đuợc kết hợp với phần định hướng có tính chủ đạo nữa… Bởi vì, ai chẳng hiểu là có kỳ đại hội đảng nào mà không thành công vuợt bực theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà thực tại xã hội Việt Nam đang có là  kết quả của những thành công ấy thì bài bản này bây giờ được lập lại theo định hướng ấy cũng chẳng có gì lạ. Chẳng những thế, cộng đoàn Dân Chúa Việt Nam sau những vụ việc đã xẩy ra tại từng điạ phương như Hà nội với Toà Khâm sứ, Thái hà, Tam toà, Đồng Chiêm, Loan lý, Cồn Dầu… và những nơi khác nữa mà vẫn kịp thời có đuợc một Đại Hội Dân Chúa… thì ai nào có thể  cảm nhận đuợc sự thành công và sự tốt đẹp hơn các nhân sự đứng tổ chức. Chỉ cần nhìn nụ cuời rất “ấn tượng” đầy thoả mãn của giám mục tổng thư ký đại hội và lời “tuyên tín” của hồng y rằng đấy chính là một lễ Hiện Xuống mới là đủ rõ. Nhưng thành công ra sao và tốt đẹp thế nào thì cần phải có những con mắt khách quan hơn nhìn lại mới chính xác, chẳng hạn cái nhìn từ những tham dự viên không phải trong ban tổ chức hay các vị trong giáo quyền.
1. Về danh xưng Đại Hội Dân Chúa
Nguyên ủy của Dân Chúa hay Dân Thiên Chúa (Populus Dei) là một cộng đoàn nhân loại đuợc Thánh Thần liên kết từ thánh ý Thiên Chúa muốn quy tụ họ thành một dân tộc để họ nhận biết kính tin Người trong chân lý và phụng sự Người trong thánh thiện. Lịch sử hình thành của Dân Chúa được bắt đầu từ thời Cựu ước với việc dân Israel đuợc chọn để chuẩn bị cho một giao ước mới đuợc ký kết bằng Máu Thánh cứu chuộc trong Đức Ki tô thành một Dân tộc mới, thành một dân thiên sai (populus messianicus) mà thủ lãnh chính là Đức Ki tô. Nói gọn lại, Dân Thiên Chúa chính là Giáo hội Chúa Ki tô.
Và câu hỏi phải đuợc đặt ra là nội dung sinh hoạt của bốn ngày gọi là Đại Hội Dân Chúa 2010 có thực sự đúng nghĩa là một Đại Hội Dân Chúa và có đáp ứng đựợc đúng theo tinh thần tên gọi của nó hay không?
Nếu gọi là đại hội Dân Chúa thì ít ra thành phần tham dự cũng như  nội dung sinh hoạt phải đuợc sắp xếp cho quân bình giữa giáo sĩ và giáo dân, lại nữa phải quy tụ nhiều thành phần giáo dân thuộc các  lãnh vực khác nhau ngoài xã hội thì mới mong có sự đóng góp kinh nghiệm truyền giáo đa dạng như  Hiến chế Giáo hội nhìn nhận rằng “Phần các chủ chăn, nhờ sự trợ lực kinh nghiệm của giáo dân, các ngài có thể phán đoán minh bạch và đúng đắn hơn  về những vấn để thiêng liêng cũng như trần thế”…mà không như tình trạng một tham dự viên ghi nhận đuợc là các đại biểu giáo dân của  các nơi  … “hầu hết là từ Hội Đồng Mục Vụ Giáo Xứ, được các đấng, các bậc tuyển chọn căn cứ vào sự nhiệt tình phục vụ tại địa phương. Các vị đều quen với nếp sống ở quê nhà chứ không phải là ở Đại Hội, buổi sáng các vị dậy rất sớm như thói quen ở nhà, khề khà một tách trà hoặc ly cà phê, nói chuyện lớn tiếng, nghe đài. Sau những giờ họp ở Hội trường, các vị tranh thủ giặt giũ, ủi áo quần, đánh bóng đôi giầy, chăm chút chiếc cà vạt. Chả mấy khi lên đời như thế này, phải tươm tất để mỗi khi gần gũi các đấng Vít vồ xin một pô ảnh, đem về phóng lớn cho con cháu ngưỡng mộ. 350 năm của Giáo Hội mới có ngày này cơ mà…Có những đại biểu đã được các đấng bản quyền địa phương chuẩn bị trước ngày đi phó hội nhưng có rất nhiều vị vì vâng lời mà lên đường…” (Vũ Sinh Hiên – Tôi dự Đại Hội Dân Chúa).
Nếu là như vậy thì chẳng khác gì các đấng bậc đã lợi dụng dịp đi phó hội này để tưởng thưởng cho những kẻ thuộc quyền hoặc kiểu như các bậc vuơng tôn công tử đi đâu phải có người điếu đóm. Lại nữa, theo sự ghi nhận chung thì ngoài những phát biểu ngắn ngủi trong hai ba phút ra, chương trình chính của Đại hội là mỗi ngày có một bài thuyết trình và hai bài tham luận đều do các giám mục nói, hoàn toàn không có tiếng nói giáo dân trừ một bài chuyên biệt đuợc gọi là của giới y tế Công giáo. Nhìn lại “Tài liệu làm việc” đã ban ra mang đầy tính chủ đạo thì ngay chương đầu đã đặt vấn đề về “Giáo hội Chúa Ki tô giữa lòng quê hương Việt Nam” mà lại vẫn còn thói tục  phong kiến tâm linh như thế thì sao tròn nghĩa hai chữ Dân Chúa, làm sao có Giáo hội Chúa Ki tô giữa lòng quê hương Việt Nam với chỉ vỏn vẹn một số giám mục, linh mục và tu sĩ ? Rồi theo thói đời thường nói là danh có chính thì ngôn mới thuận, mà một khi đã có sự lấn cấn giữa danh xưng và thực chất thì lấy chuẩn mực nào để đánh giá cho đúng?
2. Một đại hội đầu Ngô mình Sở
Nếu dựa vào nội dung chương trình của bốn ngày hội họp với những tiêu đề nêu ra trong tập “Tài liệu làm việc” với nào là “chiều kích Ba Ngôi trong mầu nhiệm Giáo hội    thân mình Chúa Kitô đền thờ của Chúa Thánh Thần   chiều kích Kitô học trong mầu nhiệm Giáo hội   cấu trúc thần nhân   cộng đoàn vượt qua và lữ hành…vân… vân…” thì đúng là một khoá họp chuyên đề về thần học của hàng giáo sĩ  mà thực tế phải khiêm tốn nhìn nhận là chưa dễ gì hết thảy các đấng bậc đã nắm bắt đuợc hết các ý niệm trừu tượng này… Song le, nội dung các bài thuyết trình và tham luận thì lại không mang tính “mầu nhiệm” mà chỉ là nói theo kiểu ầu ơ, ví dầu huề vốn hoặc biết rồi khổ lắm nói mãi và nihil novi sub sole.Vì vậy đã có nhiều ý kiến rằng phải can đảm lắm mới đủ kiên nhẫn để nghe hoặc đọc hết những bài giảng  như một số trích đoạn được sáng tác xen kẽ trong những ý niệm bài bản về tín lý và giáo lý sau đây:
Chẳng hạn như khi giảng về “Sống mầu nhiệm Giáo hội”, có đoạn … “Qua bản đề cương, Tài liệu học tập về Năm Thánh rồi Tài liệu làm việc cũng như những bài thuyết trình, tham luận và những góp ý của các đại biểu tại Đại hội, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về ba nét đặc trưng của Giáo Hội Chúa Kitô, đó là: một thực thể mầu nhiệm, một cộng đoàn hiệp thông với sứ vụ mang ơn cứu độ đến cho muôn người. Chúng ta phải công nhận rằng, tất cả những diễn tiến trong Năm Thánh, đặc biệt là trong 5 ngày Đại Hội Dân Chúa sắp kết thúc đây, đều là hồng ân Thiên Chúa ban, giúp Giáo Hội Việt Nam canh tân đổi mới. Vậy trước hồng ân bao la ấy chúng ta phải làm gì? Dĩ nhiên chúng ta phải tạ ơn Chúa. Nhưng việc tạ ơn của chúng ta không được gói gọn vào thánh lễ hôm nay, dù là rất sốt sắng và long trọng, tuy nhiên phải kéo dài suốt đời và phải thực hiện không những bằng những tâm tình nhưng còn phải diễn ra bằng việc làm và cuộc sống của chúng ta nữa. Thiết nghĩ việc làm đẹp lòng Chúa nhất là chúng ta hãy sống mầu nhiệm Giáo Hội, mầu nhiệm hiệp thông và sứ vụ của Giáo Hội, mà nhờ ơn Chúa soi sáng, chúng ta đã nhận ra qua những gì chúng ta đã học biết được trong những ngày tháng vừa qua.
Trong một bài thuyết trình về “Giáo hội Việt Nam và sứ vụ loan báo Tin Mừng” lại dạy rằng: “Cụm từ « của Chúa Kitô » nói lên sắc thái độc đáo trong việc yêu thương và phục vụ của người kitô hữu: Chúa Kitô là suối nguồn, là mẫu mực của yêu thương và phục vụ. Vì thế, hành vi yêu thương phục vụ này không chỉ hàm nghĩa luân lý (moral), mà còn mang nghĩa tinh thần (spirituel) và thần bí (mystique). Ý thức được rằng mọi điều tôi có trong cuộc đời là do hồng ân Chúa ban tặng, và Chúa ban cho tôi một tài năng nào đó, là để tôi thăng hoa chính đời sống của mình và giúp cho anh chị em đồng loại có điều kiện sống xứng đáng ơn gọi làm người.
Hành vi yêu thương phục vụ thực sự không bị lệ thuộc vào màu cờ sắc áo. Nó có khả năng vượt qua mọi định kiến, mọi ranh giới phe nhóm, để phục vụ con người…. Để xây dựng đường hướng mục vụ này, chắc chắn một điều là chúng ta không thể hành xử hoàn toàn như người không có đức tin, lấy quyền lợi vật chất làm cứu cánh, nhưng còn phải qui chiếu vào những giá trị của Tin Mừng. Trong mọi hoàn cảnh, chúng ta luôn phải là chứng nhân can đảm và trung thành nhất cho sự thật, lẽ phải với công tâm xây dựng đất nước trên nền tảng công l‎ý và hòa bình. Đây chính là thực thi sứ vụ rao giảng Tin Mừng “lúc thuận cũng như lúc nghịch”. Trách nhiệm này không chỉ dành riêng cho những mục tử, mà còn là nguyên tắc hành động của mỗi thành phần Dân Chúa, như là những chứng nhân của Tin Mừng trong đời sống hằng ngày. Thuyết trình viên còn hân hoan công bố một “tin mừng cả thể” nữa là “Người kitô hữu sống trên đất nước Việt Nam là người công dân Việt Nam. Đạo Công giáo là một tôn giáo đã hiện diện lâu năm ở Việt Nam, và đã được Nhà Nước Việt Nam công nhận là một tổ chức tôn giáo hợp pháp…” . Đúng là đã hai ngàn năm qua, Giáo hội hoàn vũ chưa thấy ở đâu có được điều này.
Trong bài tường thuật “Tôi dự Đại Hội Dân Chúa”, Vũ Sinh Hiên ghi nhận: “Trong bài tham luận của Giám Mục Đà Nẵng, ngài đã làm Đại hội sửng sốt khi đưa một từ mới vào từ điển Việt Nam: Mục Vụ Nhà Đất. Từ xưa đến giờ, người ta chỉ nghe nói về dịch vụ nhà đất chứ chưa ai nghe nói đến loại mục vụ do Giám mục Đà nẵng mới sáng chế. Chỉ tiếc rằng lời phát biểu còn mông lung mơ hồ khiến Đại hội chưa nắm bắt được cái cốt lõi của Mục vụ này, nhất là không thấy Giám mục Đà nẵng đẩy vấn đề đi xa hơn, ấy là chuyện đất đai ở quê hương của ngài. Và vì nghe đến chữ đất tôi tự hỏi Đại hội Dân Chúa đang được tổ chức trên mảnh đất nào đây. Tôi có cảm tưởng như là Đại Hội Dân Chúa lần I này, sau 350 năm thành lập hai Giáo Phận Tiên Khởi, đang được diễn ra trên một đất nước thanh bình, vô cùng thanh bình, không có vấn đề gì cả…” Và đây là nguyên văn: “…Chuyện nhà đất cũng trở thành những sự kiện nóng bỏng trong Giáo Hội hôm nay, theo nhịp chuyển mình chung của đất nước. Đứng trên góc nhìn mục vụ, những cuộc tranh chấp nhà đất có liên quan đến Tôn giáo đã xảy ra nơi này nơi khác, với những l‎ý do và hoàn cảnh ít nhiều khác biệt, nhưng đều có chung một hậu quả là đã để lại những ảnh hưởng và hình ảnh không mấy sáng sủa về một Giáo Hội Sứ Vụ, vốn là hiện thân cho bình an, hoan lạc, công chính và thánh thiện. Nghĩ đến một hướng mục vụ cho vấn đề nhà đất hiện nay, gọi nôm nay là “mục vụ nhà đất”, không hề là một ‎ý tưởng đùa nghịch, thậm chí còn phải đặt lên hàng đầu, để mỗi chúng ta cùng suy tư, cầu nguyện. Đây cũng được xem như một “dấu chỉ thời đại” quan trọng được gửi đến cho từng thành phân Dân Chúa trong Giáo Hội Việt Nam ngay trong thời điểm này. Những biến cố vừa qua đã ảnh hưởng sâu sắc đến sinh hoạt của Giáo Hội Việt Nam, đã và đang tiếp tục gây ra bao nhiêu sóng gió, đau thương và cả những đổi thay trong lòng Mẹ Giáo Hội, gây hoang mang chia rẽ và làm thương tổn nặng nề cho tình hiệp thông, làm lu mờ tính cách mầu nhiệm của Giáo Hội, và chắc chắn đã tạo ra không ít bất lợi cho sứ vụ loan báo Tin Mừng của Giáo Hội giữa lòng đất nước dân tộc mình. “Mục vụ nhà đất” càng quan trọng và tế nhị hơn, khi ảnh hưởng đến toàn xã hội dân sự mà chúng ta là thành phần, cũng như các tôn giáo khác, chứ không riêng gì cho Giáo Hội Công Giáo chúng ta…”
Chẳng  hiểu “ngài” có nắm vững ý nghĩa của hai chữ “Mục vụ” hay không mà bên cạnh “mục vụ nhà đất”, còn có mục vụ nhà trẻ với lý luận kiểu cưỡng từ đoạt lý rằng “Hầu như ngày nay, ít có một tu viện nào của các nữ tu dòng, lại không có một cơ sở nuôi dạy trẻ. Tu viện lớn, nhà trẻ lớn, tu viện nhỏ, nhà trẻ nhỏ. Có khi tu viện thì nhỏ, nhà trẻ lại lớn. Trước hiện tượng này, có nhiều nhận định khác nhau. Có người khắt khe cho rằng các nữ tu chỉ lo làm ăn, ít dành thời gian cho việc mục vụ. Thậm chí có vị hữu trách tôn giáo còn sẵn sàng trợ cấp cho các nữ tu để các chị khỏi phải giữ trẻ nữa, mà dành trọn thời gian cho việc mục vụ thông thường trong xứ đạo. Thế nhưng, trong giòng duy tư ngày nay về một Giáo Hội Sứ Vụ tổng quát, tại sao chúng ta lại không thể nghĩ đến một nền “mục vụ nhà trẻ”…? có nghĩa là từ nay khi hàng giáo sĩ hay tu sĩ làm bất cứ dịch vụ gì ngoài xã hội cũng đựợc coi như làm mục vụ, mà còn là mục vụ đặc biệt chứ không như mục vụ thông thường trong xứ đạo. Chẳng thế mà trong bài tham luận  của một linh mục đã xoay quanh vấn đề truyền giáo qua con đường du lịch với đề nghị:  Xây dựng các Trung tâm hành hương – du lịch văn hoá, có chỗ ăn nghỉ, có hội trường đủ lớn để tổ chức các buổi toạ đàm, giao lưu, nói chuyện chuyên đề. Đào tạo nhân sự có đủ chuyên môn và nhiệt huyết đáp ứng nhu cầu của khách hành hương, du lịch văn hoá tâm linh. Xây dựng các tours hành hương – du lịch liên kết giữa các giáo phận, giáo tỉnh: các Trung tâm hành hương, các nhà thờ Chính toà, các đền thánh, các Chủng viện, các trụ sở chính của các giáo phận lớn, các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh của địa phương. Phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin, website của HĐGMVN, cũng như của các giáo phận….” Nhưng điều quan trọng là chẳng hiểu nhà nước có cho ông tự do cạnh tranh với các công ty du lịch hay không đây.
3. Những điều thiếu sót cũ trong “lễ hiện xuống mới”
Lần đầu tiên sau gần bốn thế kỷ Tin Mừng đuợc rao giảng trên vùng đất quê hương nhiều đau khổ này, chắc chắn phải có nhiều kinh nghiệm vui buồn cũng như gian nan trắc trở. Thế mà một cuộc hội họp mang danh là Đại Hội Dân Chúa 2010 đã không hề dành ra một phần nào cho việc khiêm tốn  xét mình về những điều thiếu sót là việc không đúng với bản chất của một Hội thánh luôn cần thanh tẩy, vẫn hàng năm có hai mùa sám hối là Mùa Chay và Mùa Vọng. Đã vậy,  lại còn kiêu hãnh ví von đấy  là một lễ Hiện Xuống mới thì quả thực quá loạn ngôn giống như cách ăn nói vô tội vạ của  một giáo dân  đã xem mấy ngày ở Đại hội như đuợc ở thiên đàng.
Lễ Hiện Xuống của Hội thánh Công giáo là một mầu nhiệm cả thể nói lên sự kết hiệp giữa Ba Ngôi Thiên Chúa trong tình yêu mến của Ngôi Cha và Ngôi Con cùng với Ngôi Ba dành cho loài người chứ đâu phải là một sự việc bá vơ có thể đem gán ghép cẩu thả theo ý riêng đuợc.
Nho giáo chủ trương “quân tử hoà nhi bất đồng”, có nghĩa là ngôn ngữ hành vi phải xứng kỳ đức. Những cách nói giám mục thiếu nhi, chưa thôi nôi không phải là hội nhập văn hoá mà là hí lộng bừa bãi ở những nơi không nên có.
Vị linh mục thông dịch cho Đức cha Bosco Lin sẽ mang theo về Đài loan dấu hỏi to lớn trong đầu về  ý thức và lương tâm trong trách nhiệm của một ‘đấng bậc” khi ông rất chân thành và nghiêm túc bày tỏ tâm tình với Giáo hội Quê hương mà lại được nhận một câu bông đùa thái quá “Cha đại diện linh mục tu sĩ với công nhân thì được chứ lại còn đại diện cả các cô dâu Đài Loan nữa à?” để cả hội trường cười vang thì có lỗi phạm đức bác ái không? Cũng vậy, Đức cha Đài loan cho dù không hiểu nghĩa câu nói nhưng chắc cũng phải  ngạc nhiên vô cùng về trận cuời này kèm theo sau khi ngài trình bày những điều  đang là nỗi dằn vặt của lương tâm Ki tô giáo.
Yếu tính của Dân Thiên Chúa là hiệp nhất và phổ cập. Đại Hội Dân Chúa cũng đã nêu nhiều đề mục về hiệp thông, hiệp nhất nhưng đã loại Dòng Chúa Cứu Thế ra khỏi danh sách chính thức của các bề trên thượng cấp với lý do đuợc giám mục Nguyễn Chí Linh giải thích là ngày các Dòng Giáo hoàng họp để cử đại biểu vào đại hội thì Dòng Chúa Cứu Thế vắng mặt và đã cử một đại diện không có giấy ủy quyền hợp lệ (?). Vì vậy đã có nhiều nhận định cho rằng đấy chỉ là cái trò cố tình loại ra vì cái “nố tội” Thái Hà mà thôi chứ cũng có một bề trên Xitô không có mặt trong buổi họp mà vẫn là đại biểu. Hoặc nữa, một số tham luận có đụng chạm đến các đấng bậc như bài của linh mục Nguyễn Ngọc Sơn chẳng hạn, đều không đưọc phổ biến tại Đại hội. Như vậy có là hiệp nhất, hiệp thông hay không? Vậy mà trong Đại hội vẫn có bài tham luận về “Ý nghĩa và cần thiết của việc đối thoại liên tôn” là sao? Và như vậy thì đúng là thân chưa tu xong đã đòi nhảy vọt đến bình thiên hạ khi hồng y Phạm Minh Mẫn trong bài “Đáp lại lời kêu gọi của Đại Hội Dân Chúa Việt Nam 2010″ có nói đến cái lẽ “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”  của người xưa.
Đa số các vị trong Hội đồng Giám mục đã làm ngơ trước các bất công của xã hội; đã thoả hiệp với một chính quyền chỉ cai trị bằng bạo lực; đã quay lưng với tuyệt đại đa số dân nghèo mà đúng ra là sứ vụ truyền giáo theo tinh thần Mát thêu 25; với nhiều trường hợp bị áp bức, bị bóc lột… sao không đuợc xưng ra trước Đại Hội vì  tội thiếu sót và làm định hướng cho tương lai như Công đồng đề cập: “Chính công cuộc cứu độ đòi hỏi tín hữu phải lưu tâm  phân biệt đâu là quyền lợi và nghĩa vụ của họ với tư cách một phần tử của Giáo hội và  đâu là quyền lợi và nghĩa vụ với tư cách một phần tử trong xã hội loài người….Vì thế, trong thời đại chúng ta, hơn bao giờ hết, người tín hữu cũng phải làm sáng tỏ sự phân biệt và hoà hợp các nghĩa vụ và bổn phận này trong phương thức hành động của họ, để sứ mệnh của Giáo hội có thể đáp ứng  những hoàn cảnh đặc biệt của thế giới ngày nay cách trọn vẹn hơn. Thực vậy, nếu phải công nhận cho xã hội trần gian quyền điều hành theo những quy tắc riêng biệt vì lo lắng việc trần thế cách hợp pháp, thì việc loại bỏ tà thuyết chủ trương xây dựng xã hội bất cần đạo lý và chủ trương chống lại hay hủy diệt tự do tín ngưỡng của người công dân cũng rất chính đáng. (Hiến chế Tín lý về Giáo hội – chương IV, Giáo dân) để hướng dẫn tín hữu biết quan tâm và dấn thân về mọi lãnh vực xã hội, kinh tế, chính trị, văn hoá…
4. Kết luận
Trong Nho giáo, giới sĩ phu khoa bảng đuợc xem như tinh hoa của xã hội vì họ được ăn học và đào tạo kỹ về đạo làm người với  Tứ Thư, Ngũ Kinh chứa đầy bụng để thành người quân tử. Vì vậy, khi cá nhân nào thuộc thành phần này vì ham danh háo lợi nên để mất cái dũng khí mà cam tâm khom lưng luồn cúi  kiểu xin   cho thì bị gán cho bốn chữ “ngũ kinh tảo điạ”, nghĩa là cái bụng chứa đầy Ngũ Kinh  đã quét đất.  Cả một công trình của các giáo sĩ cao cấp nỗ lực với những bài bản  lấy ra từ hết Lời Chúa đến Thần học và viện dẫn cả Công đồng để tổ chức Đại Hội Dân Chúa 2010 như trên là vì muốn khai sáng thêm cho Giáo hội Việt Nam hay thực ra  không ngoài mục đích biện minh cho hướng  “đối thoại” và “hợp tác” với nhà nước cộng sản hiện nay?  Nếu chỉ vì “tư duy” đó thì  đúng đây là một lễ hiện xuống mới theo cái nhìn đen nhất  của người bê ngoài  khi thấy các Tông đồ nói tiếng lạ mà họ không hiểu; vì ai chẳng biết rằng “đối thoại” chỉ là đạo đạt các đề nghị muốn xin lên nhà nước, còn “hợp tác” chính là làm những gì  được cho phép hay có chỉ thị phải làm.
Có người đã hơi bị khập khiễng một chút khi so sánh cuộc họp này với buổi toạ đàm kỷ niệm 100 năm ngày sinh của đức Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình do Câu lạc bộ mang tên ngài tổ chức hồi cuối tháng 8 2010 với câu kết luận là “dù sao cuộc toạ đàm cũng trí thức hơn, còn ở đây (Đại Hội Dân Chúa Việt Nam 2010) nhà quê quá. Nhưng ban tổ chức lại cần cái “nhà quê” này để lèo lái đến kết cục đẹp lòng nhà nước”. Nếu đúng như vậy thì  xin hỏi các vị thực sự có chu toàn sứ mạng Đức Ki tô trao phó hay không? Chẳng những thế, khi đem tinh thần “mục vụ” như thế vào trong một sinh hoạt như Đại Hội Dân Chúa 2010 vừa qua, quý vị đã để cho nhiều giá trị thánh thiêng  bị lẫn lộn chung với những cái trần tục, làm lem luốc chân dung trung thực của một mục tử theo cách nhìn của Đức Ki tô.
Phạm Minh Tâm

Cứu sống bé gái sơ sinh trong thùng xốp bên đường

ÐỒNG NAI 30-12 (VNN) - Chiều 28 tháng 12, người qua lại ngang một chiếc cầu ở huyện Thống Nhất, Ðồng Nai phát giác một bé gái sơ sinh trong chiếc thùng xốp ở ven đường.

Bé gái không một mảnh vải che thân, còn cả cuốn rốn lòng thòng, theo báo mạng VietNamNet. Ðứa trẻ sơ sinh lập tức được chở đến bệnh viện cứu sống kịp thời.
Theo VietNamNet, liên tiếp trong thời gian gần đây có rất nhiều trẻ sơ sinh bị mẹ bỏ rơi khi vừa mới lọt lòng tại Cần Thơ, Sài Gòn, Bến Tre... Chỉ vài trẻ may mắn được người đi đường phát giác cứu sống kịp. Ða số chết vì lạnh, hoặc vì bị kiến cắn.
Ngày 25 tháng 12, 2010 báo Dân Trí cho hay sáng 23 tháng 12, nhiều phụ nữ hốt hoảng khi phát hiện một bé trai sơ sinh toàn thân tím tái, đang hấp hối trong sọt rác nhà vệ sinh nữ bến xe khách Bãi Cháy, TP. Hạ Long, Quảng Ninh.
Ngày 12 tháng 10, VNExpress cho hay một bé sơ sinh nặng hơn 3 kg bị bỏ ở một thùng rác bên cạnh nhà vệ sinh tại thị xã Ngã Bảy tỉnh Hậu Giang.
Một phúc trình mới nhất của ngành Y tế cho biết, trung bình mỗi năm có 1,000 trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, đa số bị bỏ lại tại bệnh viện chỉ vì mẹ không muốn mang cháu về nhà sau cơn vượt cạn.

                   

Bị phạt, học trò ném pháo vào nhà thầy cô, dọa chém, giết

QUẢNG TRỊ (TT) - Trong vòng 3 tháng nay, các thầy cô giáo tỉnh Quảng Trị liên tục bị khủng bố tinh thần, mà chật vật lắm người ta mới xác định được thủ phạm: Không ai khác hơn là học trò của các nhà giáo này.
Theo báo Tuổi Trẻ, vụ mới nhất xảy ra tại trường trung học Lao Bảo cách nay mười hôm. Một số học sinh từ bên ngoài cổng ném pháo vào cửa sổ khu nhà ở tập thể của thầy cô giáo, gây những tiếng nổ lớn để các nhà giáo hoảng sợ.
Sáu học sinh bị bắt giữ sau đó khai đã hành động để trả thù thầy cô phạt điểm hạnh hiểm các em. Các em này cho biết đã vượt biên giới Lào tìm mua pháo lậu mang về tận nhà rồi cùng hành động vì tư thù.
Trước đó hai tháng, rất nhiều giáo viên trường trung học Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị cũng đã bị khủng bố bằng tin nhắn vào điện thoại di động với những lời lẽ xấc xược, hỗn láo đáng sợ. Bà Nguyễn Thị Th., giáo viên Anh văn nhận được tin nhắn vào máy như sau: “D.M hai vo chong bay thich chet a? Tau se cho thang chong mi chet luon. Canh cao... Hoc sinh lop 11”.
Cuối tháng 10, một giáo viên Vật lý lại nhận được tin nhắn: “Mi thích tau về chém mi ngay bây giờ không?” Trong suốt một tuần lễ, thầy giáo này còn nhận được những cú điện thoại dọa giết vào lúc nửa đêm. Sau đó là một loạt thầy cô giáo cũng bị đe dọa bằng tin nhắn và các cuộc gọi vào ban đêm.
Cuộc điều tra đưa đến kết quả: Trường đuổi học một học sinh bị tình nghi dính vào vụ này.
Lãnh đạo trường trung học Hướng Hóa cho rằng đây là hiện tượng bất thường đáng lo ngại, chưa từng xảy ra trong vùng.

Nhà cầm quyền gia tăng khủng bố giáo dân Cồn Dầu

ÐÀ NẴNG 30-12 (NVCL) - Nhà cầm quyền thành phố Ðà Nẵng gia tăng áp lực khủng bố giáo dân giáo xứ Cồn Dầu vì họ không chịu theo lệnh cưỡng bách di dời, theo một bản tin trên mạng Nữ Vương Công Lý hôm Thứ Năm.
Bản tin của NVCL cho hay mỗi ngày có khoảng 5 tới 6 giáo dân đã từng ký đơn khiếu nại “xin được tái định cư tại chỗ” bị công an quận Cẩm Lệ và thành phố Ðà Nẵng gọi tới thẩm vấn không phải về những đề nghị chính đáng của họ mà “về việc ai đã viết đơn khiếu nại và đe dọa bỏ tù tất cả nếu không rút lại chữ ký”.
“Trong số những giáo dân bị thẩm vấn những ngày qua, người chịu nhiều áp lực và bị khủng bố nhiều nhất là ông Thái Văn Liên - ủy viên ban phục vụ của giáo xứ.” NVCL cho hay như vậy khi nói những ngày qua, ông liên tục bị công an Cẩm Lệ gọi lên thẩm vấn và bị buộc làm bản tường trình theo ý của công an, gồm các nội dung:
“Công an không xuống cùng chính quyền khi chính quyền kiểm định đất đai. Công an không ép dân hay tôn giáo nào hết. Việc kiểm định đất đai là do dân tự nguyện chứ không bị ép buộc. Và yêu cầu ông chính thức rút chữ ký khỏi đơn khiếu nại.”
Công an đe dọa nếu ông không làm bản tường trình với các nội dung trên thì sẽ bắt và bỏ tù từ 6 tháng tới 3 năm, nguồn tin nói.
NVCL cho hay từ sau vụ đám tang bà Hồ Nhu - nhũ danh Maria Ðặng Thị Tân, “đây có lẽ là đợt khủng bố khốc liệt và tàn độc nhất, khiến cho bầu khí xứ đạo Cồn Dầu trong những ngày qua, trở nên ảm đạm, bầu khí sợ hãi bao trùm, người dân chỉ còn biết ngước mắt trông chờ Thiên Chúa - đấng vừa Giáng Sinh”.
Nguồn tin thuật lại cho biết đợt khủng bố này bắt nguồn từ lá đơn khiếu nại tập thể ngày 26 tháng 11, 2010, do hơn 100 giáo dân Cồn Dầu cùng ký, gửi tới các ông Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng và các cơ quan hữu quan đề nghị “xem xét lại các quyết định và xin được tái định cư tại quê nhà”, nhưng cho tới hôm nay, các giáo dân này vẫn chưa nhận được bất cứ hồi âm nào. Trái lại, kể từ ngày họ gửi đơn tới nay, họ liên tục bị khủng bố tinh thần. Thay vì trả lời đơn bằng văn thư theo qui định của luật pháp, chính quyền Ðà Nẵng đã dùng mọi biện pháp để chỉ cốt ý điều tra xem ai đã soạn thảo lá đơn để chụp mũ và vu khống cho họ tội chống đối chính quyền.
“Một lần nữa, chính quyền trung ương và thành phố Ðà Nẵng đang bước qua pháp luật để sử dụng luật rừng, bất chấp nhân tâm và những tiếng kêu xé lòng của những nạn nhân đang đòi hỏi những quyền lợi chính đáng, hợp pháp của họ.” Bản tin trên NVCL cáo buộc.
Theo nguồn tin, trong một diễn biến khác, hai giáo dân là nạn nhân còn đang bị giam giữ sau khi được cơ quan công an đe dọa, dụ dỗ và hứa hẹn nếu không “làm đơn phúc thẩm” sẽ được giảm án cho về, thì đã rút đơn phúc thẩm và ngay sau khi họ rút đơn phúc thẩm, thì đã được công an cho hay: “Một ngày cũng không được giảm.”
Sau khi giáo dân Nguyễn Thành Năm bị công an địa phương đánh chết và 6 người bị tống giam, hơn 40 giáo dân hoảng sợ đã chạy trốn sang Thái Lan xin tị nạn chính trị. Hiện họ đang chờ được thẩm vấn để đi định cư ở một nước thứ ba.

Muốn sống thọ thì về... An Giang ?

AN GIANG 2-1 (NLÐ) - Một làng quê ở xã Nhơn Mỹ, tỉnh An Giang nằm bên bờ sông Hậu nổi tiếng vùng đất lành có 250 cụ ông, cụ bà trên 85 tuổi, trong có đến 14 cụ đã trải qua độ tuổi 100. Và người cao niên nhất là cụ Ðoàn Văn Chấn vừa mới qua đời, hưởng thọ 116 tuổi.
Bản tin báo Người Lao Ðộng ngày Chủ Nhật tường thuật cho biết, khi được hỏi bí quyết sống thọ, nhiều cụ cho biết có thể nhờ siêng năng làm việc tay chân, bữa ăn đạm bạc với cá đồng, rau củ và trái cây tráng miệng. Có cụ còn “bật mí”: “Tôi không bao giờ uống nước lạnh, mà chỉ dùng nước chín hoặc nước trà âm ấm”.
Nhân dịp đầu năm mới, nhiều cuộc họp mặt được tổ chức để mừng tuổi các cụ. Ðây cũng là dịp để các cụ kể về đời sống của mình tuy nghèo nhưng khỏe mạnh và ham mê làm việc nhà. Có cụ đã trên trăm tuổi vẫn còn trồng cây, vun gốc, bón phân, tưới rau...
Ham thích vận động, đi lại giúp các cụ già giữ được sức trẻ trung, yêu đời. Có cụ trở thành nơi nương tựa tinh thần quý giá cho đàn con, cháu và cả người trong làng. Họ là các pho sử sống động, vừa kể chuyện đời xưa không còn mấy ai biết, vừa coi giúp kinh Dịch, phong thủy, ngày giờ tốt xấu, đưa ra những lời khuyên bổ ích và lấy chính kinh nghiệm sống lành mạnh của mình làm gương cho người trẻ...
Những mẩu chuyện đời xưa được các cụ kể huyên thiên, không ngớt, từ ngày này sang ngày kia làm bọn trẻ nghe hoài không biết chán. Một trong những điều các cụ khuyên bọn trẻ là “không biết sợ một điều gì”.

Bắc Kinh có kế hoạch nắm Thái Bình Dương

Dựng căn cứ quan trọng trên đảo Hải Nam
TAM Á, Hải Nam 2-1 (TH) - Bắc Kinh đã có kế hoạch chiếm trọn biển Ðông, trong đó gồm cả đánh chiếm hết tất cả các đảo trong quần đảo Trường Sa hiện đang tranh chấp với các nước ASEAN.
Bài báo ngày đầu năm Dương lịch 2011 của nhật báo Asahi Shimbun tiết lộ như vậy.
Ngày 1 tháng 5 năm 2008, Ngũ Giác Ðài từng công bố những bức không ảnh cho thấy căn cứ hải quân Tam Á (Sanya) nằm ở cực Nam trên đảo Hải Nam đã được xây dựng để trở thành căn cứ tàu ngầm nguyên tử. Ðặc điểm của căn cứ này là nằm sâu trong lòng núi và có một số cửa thông vào qua một hệ thống kênh ngầm.
Căn cứ Tam Á ngày càng trở nên rõ rệt hơn là cứ điểm xuất phát giúp Trung Quốc không chế toàn diện biển Ðông và kéo dài xuống phía Nam, sang Ấn Ðộ Dương. Dưới đây là bản lược dịch bài viết của phóng viên Kenji Minemura, nhật báo Asahi Shimbun.
Căn cứ từ đó Bắc Kinh dùng để áp đặt ảnh hưởng đối với biển Ðông nằm trên đảo Hải Nam (Hainan).
Ở điểm cực Nam của đảo Hải Nam có thành phố du lịch Tam Á. Thích hợp để mô tả nơi đây là “Hawaii của Trung Quốc”, nhiệt độ ban ngày hơn 20 độ C dù là ở tháng 12 (Mùa Ðông) nên cũng là lý do có tới 6 triệu du khách đến thăm viếng hàng năm.
Người ta có thể nhìn thấy gia đình các du khách vui chơi trên các bãi biển dọc theo vịnh Á Long (Yalong bay) nơi có rất nhiều khách sạn sang trọng. Sau khi đi dọc theo bờ biển khoảng 3 cây số, tôi (ký giả của Asahi Shimbun) đã đến cuối đường. Hàng rào dây kẽm gai cao tới 5 mét chặn lại.
Khi tôi tới rào cản, lính canh la lớn và đuổi tôi đi. Tấm bảng cảnh cáo khu vực bị rào lại là vùng cấm vì dưới sự kiểm soát quân sự. Hai cầu tàu rất dài có thể nhìn thấy sau các sợi thép gai. Có 4 chiếc tàu bỏ neo ở đây vào ngày tôi thăm viếng.

Một người câu cá ở gần đó nói “Tôi thường thấy các tàu ngầm nổi lên mặt nước”.
Ông ta cho hay gần đây ít thấy tàu ngầm xuất hiện, một dấu hiệu cho thấy chúng đi diễn tập hay huấn luyện ở ngoài khơi xa.
Theo sự phân tích của Trung Tâm Thông Tin Hán Hòa (Kanwa), một trung tâm nghiên cứu chiến lược quân sự ở Hongkong, khoảng một tá đường hầm đã được đào dọc theo bờ biển, nơi có các cầu tàu quân sự. Người ta tin rằng đây là một trong những nơi đồn trú ngầm dưới đất lớn nhất thế giới, cho tàu ngầm, đang được xây dựng.
Căn cứ cho Hải Quân Trung Quốc không cấm người ngoài ở khu vực vịnh Á Long. Ít nhất có ba nơi trên đảo dùng cho tàu ngầm Kilo-class, cũng như phi trường quân sự và oanh tạc cơ hải quân.
Người ta cũng tin rằng nơi đây là căn cứ của các đơn vị tham gia đấu tranh vi tính. Ping Kefu, giám đốc Trung Tâm Kanwa nói rằng “Toàn thể đảo Hải Nam đã trở thành một căn cứ quân sự trong chiến lược biển Ðông của Trung Quốc”.
Gần đây, thấy có các lời bình luận rất dữ dằn trên báo chí Trung Quốc của một số chuyên viên và chức sắc nhà nước đối với các lợi ích hàng hải và các khát vọng.
Tại một diễn đàn chính sách biển của Trung Quốc tổ chức ở Thượng Hải ngày 18 tháng 12 năm 2010, với sự tham dự của các viên chức nhà nước và giới chuyên viên khảo cứu, Phó Côn Thành (Fu Kuncheng), giáo sư tại Trung Tâm Luật Hàng Hải và Chính Sách ở viện Ðại Học Giao Thông ở Thượng Hải (Shanghai Jiaotong University) được cử tọa hoan nghênh sau khi nói rằng “Nếu các tàu (đánh cá) của chúng ta bị kéo ra, tàu chiến và chiến đấu cơ nên được điều động đến đảo Ðiếu Ngư đánh đuổi tàu ngoại quốc”.
Ðiếu Ngư là tên Trung Quốc đặt cho quần đảo đang tranh chấp với Nhật mà người Nhật gọi là Senkaku. Một trong những lý do Trung Quốc chủ trương cứng rắn có nguy cơ gia tăng xung đột với các lân bang bắt nguồn từ một chủ trương thiết lập gần ba thập niên trước.
Vào năm 1982, Lưu Hoa Thanh (Liu Huaqing, tổng tư lệnh quân đội từ 1982-1988) đặt kịch bản 3 giai đoạn cho Hải Quân Trung Quốc.
Giai đoạn đầu từ 2000 đến 2010, Trung Quốc thiết lập kiểm soát vùng biển và chuỗi đảo nối từ vùng đảo Okinawa xuống tới Ðài Loan và quần đảo Phi Luật Tân.
Giai đoạn thứ hai, từ 2010 đến 2020, Trung Quốc tìm cách thiết lập kiểm soát vùng biển và các chuỗi đảo nối từ vùng Ogasawara tới đảo Guam và Indonesia. Trong giai đoạn này, một hàng không mẫu hạm được đóng hoàn tất.
Giai đoạn cuối cùng, từ 2020 đến 2040 sẽ là giai đoạn Trung Quốc chấm dứt sự thống trị toàn thể Thái Bình Dương và Ấn Ðộ Dương của Hoa Kỳ.
Trung Quốc hiện đang hối hả hoàn tất giai đoạn một. Quần đảo Senkaku và các quần đảo trên biển Ðông (đang tranh chấp với Việt Nam và một số nước ASEAN) nằm trong chuỗi đảo thứ nhất.
Khi hạm đội Trung Quốc đi qua giữa đảo chính Okinawa và đảo Miyakojima hồi tháng 4 vừa qua, báo chí tuyên truyền của Trung Quốc ca ngợi biến cố này như sự “hoàn tất vĩ đại”.
Tuy nhiên, một số người ngay trong nội bộ Trung Quốc nói rằng Bắc Kinh mới chỉ là anh tập sự khi nói đến việc nới rộng lợi ích biển. Wang Peiyun, cựu chủ biên tạp chí hàng hải, một người có nhiều hiểu biết về các vấn đề biển, nói rằng chiến lược biển của Trung Quốc không hoàn chỉnh. Phản ứng với những gì sẽ xảy ra sẽ rất lung tung và tạo xung đột với các láng giềng.
Tàu ngầm mang số hiệu 094 của Hải Quân Trung Quốc được không ảnh nhìn thấy đậu ở cảng Tam Á. (Hình: DailyMail)

th

Sunday, January 2, 2011

Hoạt động nghiên cứu Khoa học của Giảng viên Đại học Việt Nam (Phần 1)

Với buổi hội thảo “Giải pháp tạo động lực cho giảng viên Đại học tham gia Nghiên cứu Khoa học và chuyển giao công nghệ” do Bộ Giáo dục và Đào tạo mới tổ chức gần đây, thực trạng về hiện tượng giảng viên đại học không thiết tha với công việc nghiên cứu khoa học đã được đem ra bàn thảo khá nhiều.
Nhiều bất cập trong hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên Đại học Việt Nam hiện nay vẫn còn tồn tại, những hoạt động này chưa được chú trọng đúng mức. Vậy đâu là giải pháp cho những vấn đề này, Vũ Hoàng đã có bài viết tìm hiểu về thực trạng nghiên cứu khoa học này tại Việt Nam.
Một chuyên viên trong lĩnh vực giáo dục tại Việt Nam cho rằng những bất cập trong công tác nghiên cứu khoa học không chỉ bắt nguồn từ những nguyên nhân chủ quan của chính những giảng viên với mục đích “có thực mới với được đạo” mà cũng bắt nguồn từ những yếu tố vốn vẫn tồn tại lâu đời trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Đó là cơ chế quản lý, công tác khen thưởng hay những chế độ đãi ngộ người làm nghiên cứu khoa học.
Theo quy định về chế độ làm việc với giảng viên Đại học, thời gian làm việc 40 giờ/tuần, hay gần 1800 giờ/năm, thì ngoài 900 giờ giảng dạy, giảng viên phải dành 500 giờ cho nghiên cứu khoa học, 360 giờ cho hoạt động chuyên môn và các nhiệm vụ khác. Thế nhưng, trên thực tế, giảng viên các trường đại học mới chỉ tập trung làm nhiệm vụ giảng dạy, còn khâu nghiên cứu khoa học thì gần như bị buông lỏng.

Nhu cầu “cơm áo gạo tiền"
Thực trạng này, trước tiên, bắt nguồn từ chính nhu cầu “cơm áo gạo tiền”. Theo lời ông Lê Minh Tiến (ĐH Mở TP.HCM) nhận xét trong bản tham luận gửi buổi hội thảo, nguồn thu nhập chính yếu của các giảng viên ĐH hiện nay đến từ việc giảng dạy; trong khi NCKH tốn nhiều thời gian, công sức nhưng thu nhập lại ít ỏi.

Nhiều giảng viên đã dạy vượt quá số giờ quy định, với mục đích để tăng thêm thu nhập. Con số này lên đến 200-300%, nhất là khi các trường dân lập nở rộ khắp nơi và sẵn sàng trả thù lao cao hơn, lên đến 120.000 đồng/giờ nhằm thu hút giáo viên từ các trường công lập. Vì thế việc các giáo viên chuyển sang “chạy sô” sau những tiết dạy chính quy, cũng là điều dễ hiểu.
Ngoài chuyện “chạy sô” đi dạy thêm, một thực tế khác đang diễn ra với những giáo viên có trình độ cao là hiện tượng “chảy máu chất xám” ngay tại chính mảnh đất của mình, nhất là đối với một số không ít những giáo viên được đào tạo với trình độ cao như thạc sỹ, tiến sỹ ở nước ngoài về Việt Nam giảng dạy.
Ngoài thời gian giảng dạy chính, họ lại “làm thuê” cho các tổ chức nước ngoài để kiếm tiền mưu sinh với số tiền trả từng ngày tính bằng trăm đô la trở lên. Vì thế những tri thức của họ không được đầu tư vào nghiên cứu khoa học, mà phần lớn là “bán chất xám” cho các dự án của nước ngoài. Lâu dần, kiến thức mai một và khi quay lại làm nghiên cứu, họ thấy “ngại” hoặc “lười”.
Do không có những NCKH và thiếu những kinh nghiệm thực tế được tích lũy trong quá trình làm nghiên cứu, bài giảng của các giáo viên thường bị xem là khô cứng, thiếu sáng tạo. Nhận xét của một giảng viên tại trường ĐHQG, không muốn nêu tên, cho rằng:
“Về chủ quan, do họ chỉ dạy thôi, cứ giáo án như thế, năm nay họ xào của năm trước, thế nên không có một động lực nào thúc đẩy họ liên tục phải đổi mới, liên tục nghiên cứu để ra những bài giảng hay. Chính vì vậy, những bài giảng của những thầy giáo thuần giảng dạy thì nó không hấp dẫn vì không có thực tế nghiên cứu, mà lại không cập nhật, thế nên học sinh chán.”

Nghiên cứu chưa gắn liền với giảng dạy

Tuy nhiên, nếu chỉ nhận định ở khía cạnh chủ quan về thu nhập để “đổ lỗi” lên người giảng viên thì cũng là bất công. Những bất cập trong hoạt động nghiên cứu khoa học còn xuất phát từ nguyên nhân khách quan hay do chính hệ thống giáo dục và đào tạo hiện nay của Việt Nam.
Trước hết, mô hình đào tạo giáo dục của Việt Nam hiện nay vẫn tồn tại một nghịch lý là các viện nghiên cứu tách rời khỏi các trường đại học, nên việc kết hợp giữa công tác giảng dạy và nghiên cứu bị hạn chế rất nhiều. Vị giảng viên này cho biết tiếp:Bởi vì mô hình của Việt Nam là viện nghiên cứu tách rời khỏi trường ĐH, nên các giảng viên của Việt Nam không phải là những người nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp, vì những người nghiên cứu KH chuyên nghiệp hầu hết tập trung ở các viện nghiên cứu.
Bất cập của nó là những người nghiên cứu chuyên nghiệp lại không gắn liền với giảng dạy bởi vì hai cơ quan trường đại học và viện nghiên cứu tách biệt nhau.”

Phân bổ thời gian giảng dạy thiếu hợp lý

Đồng thời, giáo dục Việt Nam đang dần chuyển sang hệ thống tín chỉ, nên việc phân bổ thời gian giảng dạy cho người giáo viên cũng trở nên khó khăn hơn nhiều.
Nếu cách đây khoảng 4 năm, khi chương trình “cuốn chiếu” còn được áp dụng, thì người giáo viên có thể phân bổ thời gian cho việc giảng dạy trong một quỹ thời gian cố định, khoảng thời gian còn lại sẽ được sử dụng “toàn tâm” cho công việc nghiên cứu khoa học.
Thế nhưng với hệ thống tín chỉ đang được triển khai mạnh mẽ như hiện nay, thì việc phân chia thời gian giữa làm khoa học và giảng dạy xem ra không còn hợp lý, vì giáo viên sẽ phải “xé lẻ” quỹ thời gian của mình để chạy theo chương trình giảng dạy 1-2 buổi/tuần.
Điều này khá đặc thù, nhất là đối với những ngành nghề yêu cầu người giáo viên phải đi thực tập bên ngoài hay điền dã, thì thời gian giảng dạy như vậy sẽ hạn chế công tác nghiên cứu rất nhiều. Quỹ thời gian của họ chỉ có thể đáp ứng được hoặc là giảng dạy hoặc là làm nghiên cứu khoa học mà thôi.

Cơ chế  đãi ngộ, đầu tư còn hạn chế
Ngoài ra, chế độ đãi ngộ hay những khoản đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học tại Việt Nam cũng chưa được chú trọng đúng mức. Theo lời của ông Nguyễn Quốc Vọng (ĐH Nông Nghiệp Hà Nội) thì hiện nay, mỗi giáo viên được đầu tư khoảng 10 triệu đồng cho một đề tài nghiên cứu cấp trường là quá thấp, và để có một kết quả nghiên cứu hiệu quả với chừng ấy chi phí là điều khó có thể thực hiện được.

Tuy nhiên, kinh phí cho NCKH chỉ là một vấn đề, mà điều quan trọng hơn chính là cơ chế quản lý công tác NCKH đang diễn ra tại Việt Nam. Theo lời TS Lê Thị Tuyết Hạnh (Học viện quản lý Giáo dục) thì TS cho biết:
“Cơ chế để quản lý NCKH, có nhiều vấn đề NCKH, không phải là đăng ký trước hay đặt hàng trước, thì người ta nghiên cứu ra được, mà có cả những đề tài mang tính tự phát, trong thực tế làm việc hoặc do thiên hướng, đam mê của từng người nảy sinh. Nhưng quản lý của mình, phải có tổ chức, phải được định hướng trước.
Vì thế, có những nơi được phân bổ như vậy, thì họ không làm được, mà những nơi không được phân bổ, thì họ lại có những đề tài, sáng kiến thực tiễn, áp dụng được cho cuộc sống. Nhưng đối với người quản lý, có thể họ lại cho nó là chưa quan trọng, vì thế những đề tài thực sự chưa đi được vào cuộc sống. Mặt khác, những cái đã đăng ký, tổ chức, quản lý rồi, thì buộc phải nghiệm thu, phải được hoàn thành. Cần có những cơ chế để những người muốn làm khoa học thực sự được làm.”
Những yếu tố chủ quan đến từ người làm công việc nghiên cứu khoa học, thực hiện đề tài đã đặt nặng vấn tài chính cao hơn nhiệm vụ nghiên cứu, cộng với những yếu tố khách quan bắt nguồn từ cơ chế quản lý đề tài khoa học cứng nhắc hay mô hình giáo dục đại học tách rời với viện nghiên cứu, là những bất cập nổi cộm khiến việc nghiên cứu khoa học trở nên hình thức, đối phó cũng như tạo ra nhiều kẽ hở hơn trong việc sử dụng kinh phí cho công tác nghiên cứu KH.
Thưa quý vị, trong phần tiếp sau, Vũ Hoàng sẽ trình bày những góc nhìn khác nhau về thực tế NCKH này và sẽ đưa ra một vài giải pháp với sự góp ý của các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý giáo dục. Mời quý vị đón nghe.

Đại lễ Bế mạc Năm Thánh 2010 tại La Vang

Vào ba ngày 4, 5 và 6 tháng giêng năm 2011, Giáo hội Công giáo Việt Nam tiến hành đại lễ bế mạc Năm Thánh ở Trung tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc La Vang, tại tỉnh Quảng Trị.
Việc chuẩn bị cho sinh hoạt được xem là trọng đại đó của người Công giáo Việt Nam ra sao? Tâm tình của ngườii tín hữu đối với kỳ bế mạc Năm Thánh ra sao?
Gia Minh trình bày.
Hoạt động bế mạc Năm Thánh của Giáo hội Công giáo Việt Nam đã được đề ra ngay từ kỳ khai mạc hồi năm ngoái ở Sở Kiện, Hà Nội.

Ngày lễ trọng đại
Đến sáng ngày 2 tháng giêng năm 2011, chúng tôi liên lạc với Linh mục Lê Sĩ Hiền, người phụ trách Trung tâm Hành Hương La Vang, để hỏi thăm về thông tin công tác chuẩn bị cho kỳ đại lễ tại cơ sở do ông phụ trách và được ông cho biết:

“Mọi sự chuẩn bị đã hoàn tất, thời tiết đẹp. Chính quyền có giúp đỡ về đường xa và những mặt về an ninh trật tự. Các ban bệ của Ban Tổ chức đầy đủ và đã làm việc suốt sáu bảy tháng nay rồi. Tất cả đã sẵn sàng, còn khó khăn không có gì.”
Còn xin phỏng vấn sau những thông tin như đại diện chính phủ từ Hà Nội là ai tham dự, phái đoàn Tòa thánh thế nào…
“Dự kiến khoảng chừng trên 50 giám mục kể cả phái đoàn Tòa Thánh đặc sứ của Đức Thánh Cha, trên 1000 linh mục và chừng 5000 tu sĩ nam nữ. Giáo dân thì chưa dự đoán được, những năm khác chừng 200000-300000 người, còn người ta nô nức cả năm nay về Đại lễ Bế mạc Năm Thánh nên không biết đông đến chừng nào! Chúng tôi chuẩn bị đóng trại giữa sân, chuẩn bị đầy đủ mọi phương tiện vệ sinh, nước, điện, y tế…”
Từ những tháng qua và nhất là trong những ngày gần đây, các mạng thông tin Công giáo đều có loan tải chương trình ba ngày đại lễ bế mạc Năm Thánh của giáo hội Công giáo Việt Nam tại Trung tâm Thánh Mẫu La Vang của họ.
Một tín hữu luôn theo dõi những diễn biến của giáo hội Công giáo Việt Nam là ông Nguyễn Hữu Vinh cho biết sự đón nhận một sự kiện lớn của hội thánh của ông:
“Tôi biết từ ngày 4 đến 6 tháng 1 có Đại lễ bế mạc Năm Thánh 2010 của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Trong thánh lễ đó có hồng y đặc sứ của Tòa Thánh, của Đức Thánh cha sang đây.”

Băn khoăn

Ông cũng nêu ra một số băn khoăn của những tín hữu khác mà ông được biết:
“Có những người nói không đến. Có người không đến vì lý do riêng cá nhân, không có điều kiện để đến, bận công việc, có người nói không đến vì cho rằng ở đó có những hiện tượng không bình thường ví dụ như có một lãnh đạo của Nhà nước Cộng sản Việt Nam đến đó phát biểu trong thánh lễ.
Theo họ đó là sự lạ vì trong thánh lễ Công giáo không có sự can thiệp của chính quyền. Những người đó nói với tôi xưa nay chưa hề xảy ra điều đó và không nên tạo tiền lệ như thế.”

Ước vọng
Và ước vọng của một người tín hữu như ông trước một hoạt động lớn của giáo hội:

“Tôi hy vọng sau khi khai mạc Năm Thánh lớn và nay là bế mạc thì sẽ giúp khởi đầu cho một thời kỳ mới với những tiến bộ mới, tốt đẹp hơn thời gian đã qua cho giáo hội Việt Nam và cho đất nước Việt Nam.
Tiến bộ hơn có nghĩa theo đúng như mục tiêu của Năm Thánh đề ra là mầu nhiệm hiệp thông và sứ vụ. Vấn đề linh thánh giúp tăng cường hơn đời sống đạo đức của từng giáo dân, của từng tu sĩ, các đấng bậc trong giáo hội.
Về hiệp thông thì tinh thần hiệp thông trong giáo hội Công giáo Việt Nam sẽ mạnh mẽ hơn trong thời gian vừa qua. Hiệp thông được thể hiện rõ nét hơn trong từng vụ việc cụ thể, bằng hành động cụ thể chứ không chỉ là lý thuyết.
Hiệp thông trong giáo hội như trong một cơ thể mà mỗi tín hữu là một tế bào hiệp thông mật thiết với nhau trong đời sống, cuộc sống, đức tin và những vấn đề liên quan, kể cả những vấn đề xã hội, đặc biệt vấn đề phục vụ người nghèo, những người đau khổ, những người thấp cổ bé họng mà giáo hội có sứ mệnh phải bênh vực…”
Như lời của lịnh mục quản xứ La Vang, thì chính quyền có giúp đỡ cho sinh hoạt lớn diễn ra tại đó. Chúng tôi liên lạc với ông Nguyễn Ngọc Chiến, trưởng ban Tôn giáo tỉnh Quảng Trị để tìm hiểu thêm thông tin, nhưng ông này từ chối trả lời với lý do: Tôi đang bận.
Trung tâm Thánh Mẫu Toàn quốc La Vang ra đời từ thập niên 60. Trong chiến tranh, nhà thờ tại đây bị bom đạn phá sập. Tuy nhiên tín hữu Công giáo vẫn đến nơi đó để cầu xin với Đức Mẹ Maria của họ phù trợ mọi mặt cuộc sống.
Năm vừa qua, chính quyền đã đồng ý trao khu đất rộng chừng 22 héc ta lại cho La Vang để phục vụ nhu cầu không thể chối bỏ vừa nêu của tín hữu Công giáo Việt Nam.

Saturday, January 1, 2011

Văn thư của Ủy ban Công lý và Hòa bình gửi Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng


Ngày 23/12/2010 vừa qua, Đức cha Chủ tịch Ủy ban Công lý và Hòa bình HĐGMVN đã gửi Văn thư tới ông chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng đề nghị “Xem xét lại một cách khách quan toàn bộ hồ sơ đất và nhà của Dòng Chúa Quan Phòng Portieux tọa lạc tại số 190 đường Tôn Đức Thắng, khóm 2, phường 8, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng” và đề nghị “ UBND tỉnh Sóc Trăng trao lại cho các nữ tu khu vực trường tiểu học phường 8 để đổi lại phần đất Cô nhi viện hiện bệnh viện đang sử dụng”.
Theo thư giải trình của các nữ tu Dòng Chúa Quan Phòng, thì Ngày 25/06/1976 Dòng Chúa Quan Phòng Portieux, Tỉnh Dòng Việt Nam cho nhà nước mượn nhà, đất Cô nhi viện thuộc Tu viện Dòng Chúa Quan Phòng.
Sau khi mượn được cô nhi viện, nhà nước lại yêu cầu nhà Dòng cho mượn luôn một phần đất và vật kiến trúc khác của Dòng Chúa Quan Phòng là khu A, B, C, D, E : nhà nước sử dụng tầng dưới còn tầng trên của các soeurs đang ở thì vẫn được sử dụng bình thường. Việc nhà nước sử dụng 05 khu nhà đất này từ trước đến nay không có quyết định hay giấy tờ nào của cơ quan có thẩm quyền, đồng thời Dòng Chúa Quan Phòng Portieux, Tỉnh Dòng Việt Nam cũng không cho hay hiến tặng bằng bất cứ hình thức nào.
Ngày 23/02/2010 Dòng Chúa Quan Phòng Portieux, Tỉnh Dòng Việt Nam nhận được quyết định số 01/QĐKN-CTUBND ngày 19/01/2010 của Chủ Tịch Uỷ Ban Nhân Dân Tỉnh Sóc Trăng bác bỏ đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị Rỡ, địa chỉ số 190 đường Tôn Đức Thắng, khóm 2, phường 8, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng vì cho rằng không có cơ sở.
Nhận thấy Quyết định số 01/QĐKN-CTUBND không đúng với các tình tiết khách quan của vụ việc, giải quyết chưa thật sự công tâm, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Dòng Chúa Quan Phòng Portieux, Tỉnh Dòng Việt Nam, nên ngày 8/4/2010, Dòng Chúa Quan Phòng đã làm đơn khiếu nại gửi tới Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng, đồng thời nhiều lần gửi đơn khiếu nại tới các ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết và các cơ quan hữu quan, nhưng không được giải quyết.
Trái lại, ngày 26/11/2010 Dòng Chúa Quan Phòng nhận được thư mời của UBND Thành phố Sóc Trăng, đề nghị phối hợp với các ngành chức năng có liên quan tổ chức triển khai kế hoạch tháo dỡ Trường Tiểu học phường 8, thành phố Sóc Trăng để xây dựng Trường Mầm non phường 8 của thành phố Sóc Trăng. Nội dung buổi họp là thông qua thời gian di dời tháo dỡ Trường Mầm non Phường 8 của Thành phố Sóc Trăng để giao mặt bằng cho đơn vị thi công, với thời gian tháo dỡ là 20 ngày, bắt đầu từ ngày 1/12/2010.
Việc chính quyền thành phố Sóc Trăng ngang nhiên cấp quyền sử dụng đất cho Trường Tiểu học phường 8 trong khi Dòng Chúa Quan Phòng đang là chủ sử dụng khu đất này, là một hành động vi phạm pháp luật trắng trợn, coi thường luật pháp.
Trong khi đó, với con số gần 600 nữ tu đang hoạt động tại Việt Nam, cơ sở vật chất thiếu thốn, thì việc chính quyền ngang nhiên cưỡng chiếm tài sản của các nữ tu cách phi pháp là một một hành động không gì khác hơn là cố tình triệt hạ các tổ chức tôn giáo.
Cùng với Văn thư của Ủy ban Công lý và Hòa bình, chúng tôi kêu gọi chính quyền tỉnh Sóc Trăng tôn trọng pháp luật, lẽ phải, ‘trao trả lại cho các nữ tu khu vực trường tiểu học phường 8, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng” theo đúng các qui định pháp luật.
Nữ Vương Công Lý

Vụ án tướng Trần văn Thanh và nỗi oan Cồn Dầu


Đây quả là một hành vi hết sức dã man, bất chấp pháp luật và lương tri không chỉ của Nguyễn Bá Thanh mà cả các quan thầy của ông. Họ lấy lý do phát triển kinh tế cho địa phương, những thực chất là cướp đoạt tài sản của dân làm của riêng và lấy tài sản của dân để trang hoàng cho chế độ.
Cuối cùng chỉ những người dân là những người chịu thiệt thòi và nỗi oan khiên mỗi ngày một chồng chất.
Theo Dân Trí, Viện KSND Tối cao vừa có kháng nghị Giám đốc thẩm đề nghị Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm vụ án tướng Trần Văn Thanh, tuyên bị cáo này không phạm tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ”.

Vụ án Trần Văn Thanh
Năm 2007, Đinh Công Sắt một người từng là thiếu tá công an bị bắt vì tội “rải truyền đơn và tố cáo sai sự thật nhằm hạ uy tin lãnh đạo Đà Nẵng”.
Sau đó, ngày 2/3/2008, Dương Ngọc Tiến –  Trưởng đại diện Báo Công an TPHCM tại Hà Nội và Nguyễn Phi Duy Linh, sinh năm 1969, người quận Sơn Trà cũng bị bắt vì tội danh tương tự.
Theo các cơ quan điều tra của thành phố Đà Nẵng, thì “tổng đạo diễn” của vụ tố cáo sai sự thật và rải truyền đơn để hạ uy tín lãnh đạo Đà Nẵng này là thiếu tướng Trần Văn Thanh, Chánh Thanh tra của Bộ Công An, và ông này cũng bị khởi tố.
Ngày 20 tháng 7 năm 2009, mặc dù ông Trần Văn Thanh bị tai biến và có hai bệnh viện của công an đã xác nhận là tướng Thanh không đủ sức khỏe để dự phiên tòa. Thế nhưng, vị thiếu tướng công an vẫn bị đưa đến tòa tại nhà hát Trưng Vương trên xe cứu thương trong tình trạng hôn mê, thở ôxy và phải truyền dịch, để kiểm tra sức khỏe trước khi đưa ra tòa, – một việc mà tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ cho là “hành động vô cùng tàn bạo và man rợ, một phiên tòa chưa từng có trong lịch sử thế giới”.
Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 7/8/2009, Tòa án Nhân dân thành phố Đà Nẵng đã xử vắng mặt ông Thanh 18 tháng tù treo, các ông Nguyễn Phi Duy Linh bị phạt 36 tháng tù, Đinh Công Sắt 12 tháng tù treo. Riêng ông Dương Tiến 17 tháng 5 ngày tù, ngang với thời gian bị tạm giam nên được trả tự do ngay tại Tòa.
Theo Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2009/HSST là đã “lợi dụng quyền tự do báo chí để viết bài không đúng sự thật về tình hình Đà Nẵng nhằm gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của cán bộ lãnh đạo cũng như chính quyền thành phố Đà Nẵng“. Tuy nhiên, “cán bộ lãnh đạo của Đà Nẵng” bị ảnh hưởng uy tín, bị tố cáo sai sự thật, chính xác là ai thì không được nhắc đến.
Phải đợi tới  phiên Tòa phúc thẩm, vị cán bộ “lãnh đạo của Đà Nẵng” bị tố cáo mới được biết đó là bí thư thành ủy Nguyễn Bá Thanh.
Trong phiên tòa phúc thẩm, luật sư của ông Dương Tiến, bà Nguyễn Thị Dương Hà, đại diện văn phòng luật sư Cù Huy Hà Vũ cũng xác định người bị Đinh Công Sắt tố cáo là Nguyễn Bá Thanh. Những tài liệu “truyền đơn” mà tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng kết luận là ông Dương Tiến đã đưa cho Đinh Công Sắt đem đi rải là Công văn số 73/KSĐT-KT (ngày 31/10/2000) và Công văn số 77/KSĐT/KT (ngày 01/11/2000) của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng gửi Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao và ông Phan Diễn (lúc đó là Bí thư Thành ủy Đà Nẵng).
 Theo RFA thì cả hai công văn số 73 và 77 nói trên đều đề cập đến việc ông Nguyễn Bá Thanh đã nhận hối lộ của Phạm Minh Thông 4,4 tỉ đồng trong các công trình xây dựng Cầu Sông Hàn và đường Bắc Nam ở Đà Nẵng.
Ngoài ra, Báo cáo số 73/BC-VPBCĐ (ngày 26/10/2007) và Báo cáo số 38/BC-VPBCĐ (ngày 07/4/2008) của Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng gửi Thủ tướng Chính phủ và Ban Bí thư Trung ương Đảng, xác nhận các đơn tố cáo về hành vi tham nhũng của ông Nguyễn Bá Thanh của một số công dân thành phố Đà Nẵng (trong đó có đơn tố cáo của Đinh Công Sắt) là có cơ sở. Và Kết luận thanh tra số 524/KLTT-BCA (V24) ngày 06/6/2008 của Bộ Công an xác định có đủ căn cứ để khởi tố vụ án và bị can, nhưng Công an thành phố Đà Nẵng không khởi tố ông Nguyễn Bá Thanh để điều tra.
Luật sư Dương Hà đã đọc tại tòa rằng Công văn số 77/KSĐT/KT ghi rõ: “Thông khai có đưa cho ông Nguyễn Bá Thanh (Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng) nhiều lần số tiền là 4.425 triệu đồng theo yêu cầu của ông Thanh là Công ty muốn được thanh toán vốn nhanh phải trích lại cho ông 5% trên số vốn do công trình xây dựng bằng vốn ngân sách và 150.000đ/m² trên số mét vuông đất do Ủy ban nhân dân thanh toán bằng quỹ đất đường Bắc Nam…
Chiều ngày 31/10/2007 sau khi phân tích một cách sâu sắc và có trách nhiệm, thì có 5/7 thành viên Ủy ban Kiểm sát thống nhất Phạm Minh Thông phạm tội: Đưa hối lộ, Nguyễn Bá Thanh phạm tội: Nhận hối lộ.”
Sau khi xét xử phúc thẩm, bị cáo Trần Văn Thanh có nhiều đơn kêu oan đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm. Theo Viện KSND Tối cao, không có căn cứ kết luận Trần Văn Thanh chỉ đạo hay xúi giục Đinh Công Sắt và Nguyễn Phi Duy Linh tán phát các công văn của Viện KSND TP. Đà Nẵng trước ngày bầu cử Quốc hội khoá XII cũng như việc các bị cáo viết đơn tố cáo sai sự thật.
Báo Dân trí cho hay, trong kháng nghị giám đốc thẩm, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao cho biết nhận thấy “một số nội dung trong đơn tố cáo là có cơ sở và cần được xem xét, xử lý theo qui định của pháp luật”.
Như thế, đã rõ Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh đã phạm tội tham nhũng chỉ riêng dự án Cầu Sông Hàn và đường Bắc Nam, do Phạm Minh Thông hối lộ với số tiền đã lên tới con số 4,4 tỷ đồng. Còn biết bao dự án khác nữa tại Đà Nẵng thì không biết Bí thư Nguyễn Bá Thanh đã tham nhũng bao nhiêu?
Vấn đề là tại sao đã có kết luận của Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng cũng như kháng nghị của Viện kiểm sát Nhân dân Tối cao rằng: Nguyễn Bá Thanh tham nhũng, nhưng cho tới nay Bí thư thành ủy Đà Nẵng vẫn không bị xử lý? Trái lại, ông này càng ngày càng hung hăng trong việc cưỡng chiếm đất đai của nhân dân, đặc biệt trong vụ đất đai giáo xứ Cồn Dầu?
…Và nỗi oan Cồn Dầu
Giáo dân Cồn Dầu không có được cái may mắn như tướng Thanh, có lẽ bởi họ là dân đen, nên công lý không đứng về phía họ.
Dự án khu Du lịch Sinh thái Hòa Xuân, theo các qui định pháp luật, không thuộc diện được thu hồi đất  vì không phải là Dự án phục vụ cho các công trình công cộng, an ninh quốc phòng hoặc nếu có thì phải được sự đồng thuận của người dân.
Trong vụ việc Cồn Dầu, Nguyễn Bá Thanh là người tích cực nhất, mặc dù theo qui định của luật pháp, việc quản lý đất đai thuộc cơ quan Nhà nước, cụ thể là UBND thành phố Đà Nẵng, chứ không phải của đảng. Nhưng, thay vì đứng ở vai trò chỉ đạo, Nguyễn Bá Thanh có không dưới 20 lần xuống Cồn Dầu gọi là “đối thoại”, nhưng thực chất là áp đặt lệnh giải tỏa, mua chuộc một số giáo dân biến chất như các ông bà Liễu, Tụng, cốt chỉ duy một mục đích bằng mọi giá lấy đất Cồn Dầu. Nhiều giáo dân cho biết, dịp Tết nguyên đán vừa qua, ông quà cho toàn bộ các gia đình Cồn Dầu mỗi gia đình 500 ngàn gọi là tiền lì xì mà không biết ông lấy tiền ở đâu? Ông còn mạnh miệng tuyên bố trước giáo dân: “Không lấy được cồn Dầu, ông đâm đầu xuống cầu Cẩm Lệ!”
Có lẽ cũng vì “không lấy được Cồn Dầu, Nguyễn Bá Thanh phải đâm đầu xuống cầu Cẩm Lệ”, nên sáu giáo dân giáo xứ Cồn Dầu đã phải hầu tòa và nhận những bản án hết sức bất công.
Điều đáng nói là, sau khi các giáo dân Cồn Dầu gửi đơn khiếu nại ngày 26/11/2010 tới các ông Nguyễn Minh Triết, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng và các cơ quan hữu quan đề nghị ‘xem xét lại dự án Cồn Dầu và xin được tái định cư xung quanh thánh đường giáo xứ”, thì thay vì giải quyết đơn của giáo dân và trả lời đơn bằng văn bản theo đúng các qui định của pháp luật, chính quyền Đà Nẵng mà đứng đầu là Nguyễn Bá Thanh, tiếp tục đe dọa, khủng bố, áp đặt cho những giáo dân Cồn Dầu đã ký vào đơn khiếu nại tội “chống chính quyền”.
Đây quả là một hành vi hết sức dã man, bất chấp pháp luật và lương tri không chỉ của Nguyễn Bá Thanh mà cả các quan thầy của ông. Họ lấy lý do phát triển kinh tế cho địa phương, những thực chất là cướp đoạt tài sản của dân làm của riêng và lấy tài sản của dân để trang hoàng cho chế độ.
Cuối cùng chỉ những người dân là những người chịu thiệt thòi và nỗi oan khiên mỗi ngày một chồng chất.

Thư của Cha Giám tỉnh DCCT


Người chịu trách nhiệm chính là Cha Huỳnh Công Minh, Chánh xứ Nhà Thờ Đức Bà, Giám Đốc Nhà sách Đức Bà, và Dòng Phaolô Thiện Bản, đơn vị trực tiếp tổ chức sửa bài, đọc bản thảo, làm thủ tục cấp phép, in ấn, lưu trữ và phát hành. Chúng ta chỉ nhận cung cấp như các nhà nhận cung cấp lẻ khác.
Ngày 31 tháng 12 năm 2010
Kính thưa anh em,
Gần đây có những dư luận từ một số vị có chức sắc trong Giáo Hội là “Dòng Chúa Cứu Thế bị Tòa Thánh khiển trách” hoặc “Dòng Chúa Cứu Thế bị kiện sang Tòa Thánh”, tôi biết anh em không hoang mang vì anh em biết tình trạng cụ thể của chúng ta, nhưng anh em cần được biết thông tin chính xác, để anh em khi có thể bạch hóa vấn đề hoặc hiểu một cách rõ ràng tường tận. Vì thế tôi xin trình bày cho anh em rõ.
Ngày 22.12.2010, tôi nhận được thư của Đức Cha Phaolô Bùi Văn Đọc, Giám mục Giáo Phận Mỹ Tho, Chủ tịch Ủy Ban Giám Mục về Giáo Lý và Đức Tin, nội dung thư cảnh báo tôi về việc Nhà sách Đức Mẹ cung cấp bộ sách chú giải Kinh Thánh của William Barcley (thư đính kèm). Ngay lập tức tôi đã kiểm tra công việc của Nhà sách, thu hồi toàn bộ số sách trên và đề nghị Nhà sách làm thủ tục hoàn lại cho Nhà sách Đức Bà. Tôi cũng đã có thư trình bày, xin lỗi và cám ơn Đức Cha Phaolô (thư đính kèm).
Ngày 26.12.2010, tôi nhận được thư của Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn, trong thư ngài gởi chỉ vỏn vẹn có : Thư tố cáo gởi sang Tòa Thánh về việc bộ sách chú giải Kinh Thánh (đính kèm) và thư của Đức Hồng Y Bộ Trưởng Thánh bộ Truyền Giáo (đính kèm).

Như thế sự thể đã rõ. Người chịu trách nhiệm chính là Cha Huỳnh Công Minh, Chánh xứ Nhà Thờ Đức Bà, Giám Đốc Nhà sách Đức Bà, và Dòng Phaolô Thiện Bản, đơn vị trực tiếp tổ chức sửa bài, đọc bản thảo, làm thủ tục cấp phép, in ấn, lưu trữ và phát hành. Chúng ta chỉ nhận cung cấp như các nhà nhận cung cấp lẻ khác. Cha Giám Đốc Nhà sách Đức Mẹ đã nhận trách nhiệm trước cộng đoàn Sàigòn về việc không đọc kỹ nội dung sách trước khi nhận cung cấp lẻ, chúng ta thông cảm, làm sao có thể đọc được hết một cách kỹ lưỡng tất cả các sách Công giáo.
Qua tìm hiểu, tôi được biết thêm, sách được dịch bởi một linh mục giáo sư Chủng Viện, cựu học viên Giáo Hoàng Học Viện, hiện đang cư trú tại thành phố Sàigòn (sách không có tên dịch giả).
Đó là sự thật của thông tin “Dòng Chúa Cứu Thế bị Tòa Thánh khiển trách” hoặc “Dòng Chúa Cứu Thế bị kiện sang Tòa Thánh”. Xin anh em gia tăng cầu nguyện cho Nhà Dòng chúng ta được kiên vững, cho những ai không có thiện ý đối với Nhà Dòng chúng ta được nhận biết sự thật.
Kính chào anh  em trong Đức Kitô Cứu Thế.
Lm. Vinh Sơn Phạm Trung Thành, dcct.

Giáo Hội Việt Nam trước cơn sóng dữ


Đối thoại dĩ nhiên là điều tốt, nhưng dưới chế độ Cộng Sản vô thần, không bao giờ người công giáo được đối thoại theo đúng nghĩa: nói chuyện với nhau một cách bình đẳng, không có cái cung cách kẻ trên – người dưới, kẻ vênh váo – người khúm núm; trình bày một cách thẳng thắn những gì muốn nói với nhau, và lắng nghe nhau trong tinh thần tôn trọng: nếu anh sai tôi có quyền chỉ cho anh thấy cái sai mà không hề bị anh để ý, trả thù; nếu tôi nói đúng thì anh phải thành tâm phải sửa đổi. Nếu ngồi vào bàn chỉ để nghe người ta “lên lớp”, “hô khẩu hiệu”, còn mình thì cười cầu tài hay nói vuốt theo, mình chỉ có thể tán thành chứ không có quyền phản đối, khi ý kiến hai bên bất đồng thì họ giành quyền bác bỏ ý kiến của mình và hành động theo ý của họ thì đó không phải là đối thoại mà là mối tương quan của kẻ thống trị và người bị trị.
Vào dịp lễ Giáng Sinh vừa qua, đài phát thanh RFA đã phát loạt bài nói về tội ác của Cộng Sản tại trại giam Cổng Trời do thông tín viên Mặc Lâm thực hiện. Trong bài đầu tiên, tác giả đề cập đến chuyện bách hại xảy ra tại nhà thờ lớn Hà Nội vào mùa Giáng Sinh năm 1959. Kết quả là linh mục chánh xứ Trịnh Văn Căn (sau là Hồng Y thứ nhì của giáo hội Công Giáo Việt Nam) bị 12 tháng tù treo, cha phó Nguyễn Văn Vinh cùng một số tu sĩ, giáo dân khác bị bắt đưa vào trại giam Cổng Trời và tất cả đã bỏ mình trong chốn địa ngục trần gian ấy. Điều đáng nói ở đây là thủ phạm trực tiếp của vụ bách hại chính là Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo, tiền thân của cái gọi là Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo Việt Nam hôm nay, tổ chức do nhà nước thành lập này đã gây biết bao nỗi đoạn trường cho giáo hội Công Giáo, đã giúp Cộng Sản len lỏi vào hang ngũ lãnh đạo giáo hội và hiện đang tiếp tục đóng vai trò trung gian để “nối kết” giáo hội Công Giáo và nhà nước Cộng Sản qua chiêu bài “đối thoại”.

TS Luật Cù Huy Hà Vũ đề nghị phóng viên Trâm Oanh tham gia tố tụng


Tôi, Cù Huy Hà Vũ khẳng định việc trả lời của quý bà là hoàn toàn hợp pháp, cụ thể để thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân Việt Nam được Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001) của Nước Cộng Hòa xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam quy định tại điều 69, thực hiện quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp được quy định tại Điều 19 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 mà Nhà nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tham gia ký kết (đã gia nhập) vào 24/9/1982 và do đó việc tôi trả lời phỏng vấn của Quý Bà không phải là hành vi phạm tội mà ngược lại là thực hiện các quyền cơ bản của con người Việt Nam được Hiến pháp và Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 bảo hộ.

Nữ Vương Công Lý

Ba thanh niên gốc Việt cướp nhầm tiệm của vợ mafia

PHILADELPHIA, Pennsylvania - Ba thanh niên gốc Việt bị cảnh sát bắt vì đi ngược chiều, sau khi cả gan cướp nhằm tiệm một người vợ của trùm mafia thành phố Philadelphia, theo tin báo Philadelphia Daily News.
Phuong Tran, 36 tuổi, Phuc Nguyen, 18 tuổi, và Chau Tron, 21 tuổi, cả ba đều là cư dân Louisville, Kentucky, bị bắt và bị tố cáo tội cướp bằng vũ khí, làm hiểm nguy nạn nhân một cách vô trách nhiệm, âm mưu tội ác, đe dọa khủng bố và nhiều tội khác.
Cảnh sát nói rằng bộ ba này có thể thoát thân sau khi gây án nếu không vô tình đi ngược chiều sau khi cướp ở tiệm tóc John Anthony Hair Styling for Men.
Ba người này lái xe từ Louisville xuống thăm bà con ở Darby. Họ bị nghi đã thực hiện một loạt vụ ăn cướp ở khu South Philadelphia. Trong số tang vật bắt được trong xe, có nhẫn đính hôn và nhẫn cưới của Terri Staino, 38 tuổi, vợ của Anthony Staino, là một người bị nghi là trùm mafia ở thành phố này.
Sự việc bắt đầu khi bà Terri đến mở cửa tiệm tóc lúc 9 giờ 15 phút sáng, sớm hơn thường lệ, phát ngôn viên cảnh sát Christine O'Brien cho biết.
Khi đã vào bên trong và khóa cửa lại, bà Terri nghe tiếng gõ cửa, nhìn ra thấy hai thanh niên muốn cắt tóc.
Bà mở cửa, mời khách vào bên trong, mời uống cà phê.
Khi bà Terri đi vào phía trong, một nghi can theo gót bà vào, dí súng, bắt nạn nhân cởi dây chuyền, nhẫn đính hôn, và nhẫn cưới.
Trong khi đó, nghi can kia lấy laptop, sổ check và một số vật dụng làm tóc của tiệm. Cả hai thoát đi nhẹ nhàng.
Một giờ sau, cảnh sát Philadelphia phát hiện một chiếc xe hiệu Honda màu bạc, mang bảng số Kentucky đi lộn vào đường Water, một con đường một chiều gần đường Somerset, cảnh sát cho biết.
Khi tiếp cận chiếc xe Honda, cảnh sát thấy một khẩu súng nằm trên sàn xe, giữa hai chân của nghi can ngồi bên ghế hành khách. Thế là cả ba nghi can bị bắt, và cảnh sát bắt đầu nhận biết nhân dạng của họ giống mô tả của nạn nhân Terri Staino.
Trong xe của ba nghi can, cảnh sát cũng phát giác bốn khẩu súng, nữ trang của bà Staino và nhiều đồ vật trong các vụ cướp khác.
Cảnh sát Philadelphia đang điều tra ít nhất ba vụ cướp khác mà có thể do ba nghi can gốc Việt này thực hiện.
Anthony Staino, 55 tuổi, được giới cảnh sát biết đến là một người có liên hệ lâu năm với tổ chức tội ác Ligambi. Mặc dù chưa bao giờ bị truy tố bất cứ tội nào, ông Staino được coi là nhân vật số 2 trong băng đảng mafia ở vùng South Philadelphia, theo nhiều nguồn tin báo chí.
Cả hai ông bà Anthony và Terri, theo hồ sơ trên Internet, có nhiều căn nhà tại vùng South Philadelphia và Gloucester County, cưới nhau hồi tháng 9 và nghe nói tổ chức một đám cưới rất linh đình tại Curtis Center.
Trong số 300 khách mời có chú của chú rể, tên Ralph “Junior” Staino Jr., 78 tuổi, một tay mafia khét tiếng ở Philadelphia.
Ngoài ra, nhân viên chìm FBI cũng có mặt tại đám cưới, chụp hình khách mời tại buổi tiệc. Nhân viên công lực liên bang đang kiểm tra những tấm hình này.

Chào năm mới 2011

Hôm nay, ngày 31 tháng 12 năm 2010, là ngày tất niên của Tết Dương Lịch 2011, Thanh Trúc mời quí vị đi một vòng các nước Âu Á để xem người Việt tha phương tạ từ năm cũ và đón chào năm mới như thế nào?
Vào khi những giờ khắc cuối của năm 2010 rút ngắn lại đề nhường chỗ cho năm 2011, người Việt khắp nơi trên thế giới ít nhiều gặp nhau tại một điểm tương đồng, đó là mối ưu tư về nền kinh tế toàn cầu, tình trạng thời tiết bất thường gây thiên tai nhiều nơi với lòng mong mỏi con người ý thức nhiều hơn hầu giảm thiểu hiệu ứng ấm nóng dần của trái đất.

Ước mơ hòa bình

Từ vùng Chiang Mai của Thái Lan, ông Bình, đang làm việc trong một tổ chức phi chính phủ, cho rằng năm cũ có nhiều vấn đề lo lắng về kinh tế nhưng thật sự cũng tạo niềm tin vững vàng hơn đối với con người:
“Về năm mới không biết phải nói như thế nào nhưng vẫn có niềm hy vọng. Rất nhiều người ước mơ hòa bình cho con người. Có lẽ nhiều người cũng cố gắng đóng góp phần mình như thế nào để giúp xây dựng nền hòa bình cho thế giới, cho quê hương và cho cộng đồng mình đang sống.” 
Sống ở thủ đô Đài Bắc nhiều năm, chị Bích, đang làm nghề may gia công ở đây:
“Năm 2010 bên này kinh tế cũng đi xuống, công ăn việc làm của người Việt bên này thì kinh tế xuống thì mức lương cũng sụt. Một số thiên tai khiến người ở đây cũng hoang mang, nhiều cô nói với em người ta về Việt Nam thường hơn, về thăm cha thăm mẹ tại sợ ở đây động đất rồi sợ không thấy cha mẹ.
Trước ngưỡng cửa năm 2011, còn mấy ngày nữa thôi, em mong muốn người dân Việt Nam mình có ý thức biết bảo vệ môi trường hơn, mong những người Việt ở Đài Loan dễ tìm việc làm, con cái được chính phủ hỗ trợ để ăn học chứ bây giờ ở bên này không ai dám sinh đẻ, sinh con càng ngày càng ít. Khu em ở có một hai trường mẫu giáo đã đóng cửa, coi như đất nước không có mầm non.”
Ông Huỳnh Báu, từ đất nước Na Uy xa xôi vùng Bắc Âu với khí hậu buốt lạnh, nói rằng khủng hoảng kinh tế kéo dài từ 2008 đến gần hết 2010 này thực ra không tác động quá nặng đến Na Uy:
“Cuộc sống ở Na Uy thì bình bình vậy thôi, nói chung sướng hơn những nước khác. Bắc Âu thì coi như Na Uy là số một. Chính phủ Na Uy đối với người Việt định cư rất là tốt rất là chiếu cố về mọi mặt. Thành ra cuộc sống ở Na Uy từ trẻ tới già rất tốt đẹp.
2011 tới thì ước vọng của Hùynh Báu là Na Uy giúp đỡ người Việt mình ở đây rất là nhiều, chỉ mong muốn người Việt ở đây nhớ ơn Na Uy. Ước ao người Việt Nam đừng có làm những cái việc gì mà để mang tiếng cho người Việt mình. Tại vì ở đây cũng có một số phần tử ở ngòai Bắc, một thời gian cũng làm mang tiếng người Việt nhiều lắm làm cho Na Uy hơi kỳ thị, họ làm nhiều cử chỉ mình cũng nhột lắm.”
Cũng trong vùng Châu Âu nhưng gần hơn, nước Đức, chị Thanh Bình bày tỏ:
“Kinh tế của thế giới thật ra chưa vững chắc nhưng mà có phần tiến triển tốt. Nước Mỹ và nước Đức không bị sa lầy, đấy là điều may cho người Việt ở Đức.
Đối với người Việt ở Đức thì năm 2010 không phải là một năm may mắn lắm vì ảnh hưởng kinh tế thế giới. Nhưng mọi người đã vượt qua được năm 2010. Hy vọng năm 2011 mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn, thiên tai sẽ ít đi, thế giới sẽ bắt tay với nhau tốt đẹp hơn, Trung Quốc không còn là mối đe dọa kinh khủng đối với thế giới. Nhất là đối với Việt Nam thì mong Trung Quốc sẽ là người hàng xóm khá hơn nhiều. Mong các nước hợp tác với nhau để làm cho khí hậu tốt đẹp hơn.” 

Ưu tư kinh tế toàn cầu
Tuy nhiên, dưới cái nhìn của một nhà báo như ông Phạm Trần ở Washington DC, thủ đô Hoa Kỳ, mọi chuyện qua năm mới không đơn giản như mơ ước, bởi 2010 chấm dứt nhưng hệ lụy của nó chưa chấm hết khi bước sang 2011:

“Vấn đề kinh tế toàn cầu, tình hình chính trị thế giới, trong đó hai cuộc chiến tranh ở tại Afghanistan và Iraq vẫn chưa được giải quyết, khủng hoảng ở Trung Đông, triển vọng hòa bình giữa Palestine và Do Thái càng ngày càng lu mờ, Iran với vấn đề vũ khí nguyên tử.
Qua Á Châu thì hiểm họa chiến tranh Nam và Bắc Hàn vẫn còn đe dọa vùng này. Rồi vấn đề đe dọa về sức mạnh quân sự của Trung Quốc đối với các nước Á Châu trong đó có Việt Nam.
Tôi cho rằng tình hình biển Đông năm 2011 có thể có những biến cố mới. Điều mà người ta trông đợi ở năm 2011 là hòa bình thế giới vãn hồi, rồi cả kinh tế phải thay đổi chứ không thể như 2010. Đấy là hy vọng chung cho 2011.”
Vẫn trong mối ưu tư về kinh tế toàn cầu, tiến sĩ kinh tế Phan Văn Song, đang cư ngụ tại Lyon, Pháp, đóng góp:
“Năm 2010 đặc biệt tại Âu Châu này là sự sập tiệm của một nước. Tại Irlande(Ireland), Greece (Hy Lạp), và Portugal, có thể là Spain (Tây Ban Nha) nữa. Cả một nước bị bankcruptcy (phá sản) là một hiện tượng mới, bất ngờ, đáng lo.
Càng lo lắng hơn nữa là ngày hôm nay người ta đặt lại câu hỏi có nên giữ đồng tiên euro hay không. Đồng euro lập ra để có thể cạnh tranh với đồng đô la Mỹ, mới tám tuổi đã gặp khó khăn rồi. Đó là cách nhìn của Âu Châu.
Người Việt Nam hải ngoại hy vọng Việt Nam được dân chủ hóa thì may ra thoát khỏi nanh vuốt của Trung Quốc. Hy vọng nhà cầm quyền Việt Nam khôn ngoan và giữ tình bạn bè đối với những nước ASEAN. ASEAN sẽ là một khối tương đối mạnh, mạnh về mặt kinh tế, chính trị, để có thể đương đầu với Trung Quốc và xa hơn nữa là với khối Anzus gồm Tân Tây Lan, Úc Châu và US. Có như vậy Việt Nam may ra giữ được sự độc lập đối với Trung Quốc.”
Xin mời quí vị ghé đến Đông Âu, gặp ông Cang, sinh sống tại Praha, thủ đô Tiệp:
“2010 có ảnh hưởng đến 2011 là điều hiển nhiên bởi đó là một quá trình tiếp nối. Cả thế giới trong cơn khủng hoảng kinh tế thì nước Tiệp cũng vậy. Hy vọng lớn nhất là kinh tế sẽ thay đổi sẽ đi lên trong năm 2011.
Mình người Việt thì không thể không nghĩ đến đất nước Việt Nam. Ước nguyện cho 2011 cũng là mong sao cho người dân Việt Nam có thêm được những quyền tự do, tự do mưu cầu hạnh phúc và có quyền tạo dựng hạnh phúc của mình. Đất nước Việt Nam bị tàn phá một cách nặng nề, tài nguyên khoáng sản bị bốc đi bán thô, người dân không để tâm đến vấn đề môi trường. Hầu như ai cũng có những hoạt động làm ảnh hưởng đến môi trường, rừng bị tàn phá khiến lũ lụt liên tục kéo về, hậu quả từ sự quản lý không có ý thức bảo vệ môi trường. Để thay đổi thì hy vọng đất nước Việt Nam sẽ thay đổi theo hướng dân chủ.”
Rời Đông Âu qua Moscow, thủ đô Liên Bang Nga, chị Lan Hương, định cư tại Nga hai mươi hai năm, cho biết năm 2010 là năm mà nước Nga có mức tăng trưởng lạc quan gần 4%. Thế nhưng, chị nói tiếp, những diễn biến khí hậu đặc biệt bất thường như khí nóng tột độ mùa hè năm nay và hiện tượng mưa băng đá lần đầu tiên từ hơn hai thập kỷ qua trong mùa đông:
“Mong rằng năm 2001 là bậc thang cho người ta đi lên, điều quan trọng hơn cả là cho người ta một tinh thần lạc quan ổ định hơn. Mong rằng năm 2011 thì chính sách người nước ngoài ở Nga sáng sủa hơn khả quan hơn đối với cộng đồng người Việt, bởi sau khi đóng cửa chợ Vòm từ 2008 đến nay thì người Việt trải qua nhiều biến đổi không mấy thuận lợi. Hy vọng năm 2011 với một thị trưởng mới, với một thập kỷ mới của thiên niên kỷ 21 thì hy vọng người Việt sẽ tìm thấy cho mình một hướng đi mới ở nước Nga.”

Mong Việt Nam tiến bộ

Ở đất nước thuộc khối Liên Xô trước kia, sau tách ra thành Cộng Hòa Moldovia, một thương gia nơi đây là ông Tuấn: “Tôi thì ở bên này lâu, vừa rồi có tham gia vào một số công trình trọng điểm cấp nhà nước giữa Nga và Việt Nam. Tôi thấy năm vừa rồi Việt Nam tiến bộ lên nhiều, có nhiều cái cởi mở hơn và hình như cách nhìn của thanh niên bây giờ cũng có khác hơn. Đó là chiều hướng tốt.
Vì vậy tôi nghĩ năm 2011 này thì nước mình phải tốt hơn, anh em bên này cũng sẽ cảm thấy gần gũi hơn và vui vẻ hơn. Mà nói thực nhiều lúc cũng cảm thấy đỡ xấu hổ về những quan niệm buồn cười của nhà mình. Ước ao cho Việt Nam là người Việt Nam ta ở nước ngoài có tiếng nói chung để mà gần gũi đóng góp tích cực cho bên nhà . vì tôi nghĩ mình ở bên này có cách nhìn khác hơn, rộng rãi hơn, có điều kiện tốt hơn thì mình cũng phải làm cái gì đấy. Còn lại thật lòng mà nói thì … thấp cổ bé họng…”
Trở lại Paris của nước Pháp, mà năm 2010 được nhận định là một năm khó khăn với số người thất nghiệp tăng cao bên cạnh những cuộc đình công phản đối chính sách cải tổ, ông Đỗ Bình bày tỏ niềm hy vọng trước những chỉ dấu khả quan vào khi kết thúc 2010:
“Năm 2010 là một năm thật ra cũng không đẹp đẽ gì đối với nhân loại. Qua năm 2011 có thể kinh tế phục hồi , con người sẽ sống khá hơn, tử tế với nhau hơn.
Con người trong nhiều thập niên qua đã thiêu hủy đi cái thiên nhiên, và thiên tai chỉ là hậu quả mà con người đã phung phí tài sản của thiên nhiên một cách không ý thức. Sự tàn phá mà con người gây ra còn gấp nhiều lần hơn cái sự thông minh của con người. Do đó tôi ước vọng con người ý thức được nhiều hơn để tự chế.”
Và đã đi khắp nơi thì sau rốt phải đến quê nhà, nghe cô Ý Ly ở Hà Nội nói về tuổi trẻ ngày nay và ước mơ ngày mai:
“Năm 2010 em thấy có khá nhiều biến động, khá nhiều thay đổi và khá là nhiều những sự không may mắn. Thế nhưng khi nhìn lại cả năm, em nghĩ qua 2010 mình đã học được rất nhiều bài học để bước tiếp vào năm 2011. Em hy vọng vào sự tươi sáng của năm 2011 bởi mình khôn ngoan hơn trưởng thành hơn.
Em nghĩ giới trẻ Việt Nam hiện đang để ý đang có nhiều ý thức để nhắc nhở cũng như làm các dự án khác nhau để bảo vệ môi trường. Càng ngày, với sự hỗ trợ của Internet, các bạn có động lực và sức mạnh để kết nối với nhau, kêu gọi nhau hành động chứ không ngồi chờ một cách thụ động nữa. Điều này cho thấy khả năng thay đổi từ dưới lên được nhiều như vậy, mong sẽ có sự chủ động nhiều hơn từ các thanh niên các bạn trẻ bởi tác động của tuổi trẻ tạo nên sự thay đổi tích cực trong xã hội.”
Đó là quan điểm và cảm nghĩ của người Việt khắp nơi nhân Tết Dương Lịch 2011. Phải chăng mẫu số chung mà người Việt khắp nơi tìm ra cũng chính là nỗi lo của nhân loại trước hai việc cần thiết, một là vực dậy nền kinh tế, hai là cùng nhau giải quyết hậu quả thay vì tiếp tục hủy hoại môi trường trên địa cầu của chúng ta.

Việt Nam sẽ tiếp tục phá giá tiền đồng vào năm 2011?

Báo cáo gần đây của Tổng Cục thống kê cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam đã đạt mức 6,8%, cao nhất trong vòng 3 năm nay.
Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam cũng đang phải đối mặt với các vấn đề về lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng tăng cao, thâm hụt cán cân thanh toán, và đặc biệt là đồng Việt Nam mất giá. Có nhiều dự đoán cho rằng Việt Nam sẽ tiếp tục phá giá đồng bạc vào năm 2011. Tuy nhiên các chuyên gia kinh tế có cách nhìn khác nhau về biện pháp này. Việt Hà tổng hợp và tường trình.

Tác động tiêu cực

Việc các công ty lượng giá tín dụng quốc tế gần đây liên tục hạ thấp trị giá trái phiếu chính phủ Việt Nam bằng ngoại tệ và tiền đồng đang được cho là sẽ có tác động tiêu cực tới tâm lý thị trường về sự mất giá của đồng Việt Nam. Báo cáo gần đây của ngân hàng Standard Chartered Bank dự báo Việt Nam sẽ tiếp tục phải phá giá đồng Việt Nam trong vòng 12 tháng tới với tỷ giá chính thức giữa đồng đô la và đồng Việt Nam đạt mức 20.800 vào cuối năm 2011. Hiện tỷ giá chính thức do ngân hàng nhà nước quy định là 19.500 đồng ăn một đô la.
Kể từ tháng 11 năm ngoái, Việt Nam đã hạ giá đồng Việt Nam đến 3 lần. Dự báo lần này của ngân hàng Standard Chartered Bank cũng không phải không có được những ý kiến đồng thuận nhận định từ các chuyên gia kinh tế ở Việt Nam. Hồi giữa tháng này, báo Tiền phong trích lời ông Trần Hoàng Ngân, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính và tiền tệ quốc gia nói rằng Ngân hàng nhà nước và Hội đồng nên xem xét việc tiếp tục hạ giá đồng bạc Việt Nam. Ông Ngân cho rằng đây là thời điểm thích hợp để hạ giá đồng Việt Nam vì nguồn cung đô la đang nhiều và mức kiều hồi lớn có thể bù đắp.
Việc tiếp tục hạ giá đồng bạc sẽ không gây sốc và sẽ không có ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế.
Kinh tế gia Lê Đăng Doanh thì cho rằng việc tiếp tục hạ giá đồng Việt Nam trong năm 2011 là khó có thể tránh khỏi do mất cân đối cán cân thương mại và khả năng thanh toán của Việt Nam. Ông nói:
“Theo tôi cân đối của cán cân thương mại và khả năng thanh toán của Việt Nam đòi hỏi phải điều chỉnh và sức ép trên thị trường đòi hỏi Việt Nam phải điều chỉnh tỷ giá này.”
Mặc dù vậy ông cũng cho rằng đây không phải là giải pháp tối ưu. Theo ông chính phủ nên điều chỉnh tỷ giá nhiều lần từ từ chứ không giật cục như các lần trước để tránh gây sốc tâm lý trong doanh nghiệp và người tiêu dùng. Theo chuyên gia này, tỷ giá chính thức giữa đồng đô la và Việt Nam sẽ đạt mức 22.000 đồng ăn một đô la khá nhanh trong các tháng tới và có thể đạt mức 23.000 đồng ăn một đô la vào cuối năm 2011.
Trong hội nghị triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2011 diễn ra vào các ngày 27 và 28 tháng 12 vừa qua ở Hà Nội, Thống đốc Ngân hàng nhà nước Nguyễn Văn Giàu cho biết năm 2011 Việt Nam sẽ tiếp tục chính sách tỷ giá và quản lý ngoại hối linh họat hơn theo tín hiệu thị trường, phù hợp với diễn biến lãi suất, cân đối hài hòa cung cầu ngoại tệ, tăng tính thanh khoản cho thị trường và thúc đảy xuất khẩu, hạn chế nhập siêu. Điều này ám chỉ khả năng việc tăng lãi suất và tiếp tục hạ giá đồng Việt Nam.


Hạ giá đồng bạc có lợi?

Tuy thế, cũng có ý kiến phản đối việc tiếp tục hạ giá đồng bạc. Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành giải thích lý luận cho rằng việc hạ giá đồng bạc sẽ thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam là không phù hợp và việc hạ giá đồng bạc gây hại nhiều hơn lợi. Ông giải thích:    
“Nền kinh tế Việt Nam với đặc thù là các mặt hàng xuất khẩu chiến lược như da giày, hay may mặc thì có đến 80- 90% nguyên liệu sản xuất đều là nhập khẩu. Vì vậy hạ giá đồng bạc xuống thì nguyên liệu sẽ tăng giá vì phải nhập khẩu về, giá thành của hàng hóa đó xuất khẩu ra chưa hẳn có lợi thế. Vì thế một nền kinh tế như Việt Nam thì việc hạ giá đồng bạc để xuất khẩu chưa hẳn là một lý do đúng đắn. Đối với các hàng hóa khác như gạo, café có hàm lượng nội địa cao thì có lý do, nhưng với Việt Nam có hạ giá thì cũng không xuất khẩu hơn được gạo hay café, cao su vì sản xuất có hạn. Cho nên dù hàm lượng nội địa cao thì cũng không có lợi gì khi hạ giá đồng bạc.”
Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành cũng cho rằng nguồn cung đô la nhiều là không có căn cứ bởi vì mặc dù Việt Nam có nhận 8 tỷ đô la kiều hối năm nay thì vẫn phải chịu chênh lệch cán cân thanh toán là 4 tỷ đô la.
Ngoài ra, cũng có những ý kiến chuyên gia khác khá dè dặt với việc tiếp tục hạ giá đồng Việt Nam, mà thay vào đó là tiếp tục thực hiện thắt chặt chính sách tiền tệ, tức là duy trì lãi suất cơ bản đồng Việt Nam ở mức cao để kìm chế lạm phát và không hạ giá đồng bạc. Ông Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban giám sát tài chính quốc gia nói:
“Mục tiêu chủ yếu là ổn định tỷ giá hối đoái vào đầu năm, sau đó kéo lạm phát xuống. Mục tiêu chủ yếu là ổn định thôi còn phá giá thì không làm mà nếu làm thì cũng không lớn lắm. Tôi nghĩ là vấn đề bây giờ không phải là vấn đề hạ giá đồng Việt Nam mà vấn đề là giảm lạm phát, giảm kỳ vọng về phá giá đồng tiền.”
Theo tổng cục thống kê, lạm phát của Việt Nam trong tháng 12 đã đạt mức 11,8%, cao nhất trong vòng 22 tháng qua. Các nhà tài trợ cho Việt Nam hồi tháng này cũng đã cảnh báo chính phủ về việc lạm phát đang tăng và sự suy yếu của đồng Việt Nam.
Để đối phó với vấn đề này, chính phủ Việt Nam đã tăng lãi suất cơ bản đồng Việt Nam hồi tháng 11 lên mức 9% sau khi chính phủ tuyên bố việc kiềm chế lạm phá là ưu tiên quan trọng hơn tăng trưởng.
Qũy tiền tệ quốc tế cũng nói Việt Nam nên giữ  lạm phát ở mức từ 3 đến 4%, tương ứng với các nước khác trong khu vực ASEAN. IMF nói rằng việc hạ giá đồng bạc đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng lạm phát ở Việt Nam trong thời gian vừa qua.